07/10/2018 18:09 (GMT+7)
Số lượt xem: 138
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Khoảng chín trăm năm sau Phật niết-bàn, tức khoảng thế kỷ thứ 4 Tây lịch, bấy giời tại Ấn Độ có Di Lặc xuất thế, diễn giảng Du-già-sư-địa luận, Vô Trước ghi lại, rồi sáng tác thêm Đại trang nghiêm kinh luận, Nhiếp Đại thừa luận, Hiển dương thánh giáo luận... đều là những tác phẩm phân tích tâm lý cực kỳ sâu sắc, đặt nền móng cho ngành tâm lý học Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Đồng thời,

Thế Thân cũng viết Nhiếp Đại thừa luận thích, Thập địa kinh luận, Biện trung biên luận, Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập tụng, càng làm cho học thuyết tâm lý học ngày càng thêm sáng rỡ. Không lâu sau đó, Vô Tánh cũng tạo luận chú thích Nhiếp Đại thừa luận. Rồi Pháp Hộ, Đức Huệ, An Huệ, Thân Thắng, Nan Đà, Tịnh Nguyệt, Hoả Biện, Thắng Hữu, Tối Thắng Tử, Trí Nguyệt, tất cả gồm 10 Đại luận sư tương tục sáng tác luận, hợp lực chú thích Tam thập tụng của Thế Thân thành tác phẩm Luận thành duy thức, khiến cho ngành tâm lý Du-già phát triển rộng khắp Ấn Độ.

Bài viết này xin giới thiệu sơ lược 10 vị luận sư lớn có công sáng tác Luận thành duy thức, một tác phẩm phân tích, chia chẻ mọi góc cạnh tâm lý rất khoa học.

1.      Thân Thắng – Bandhuśri (Ban-tẩu-thất-lợi). Không rõ lai lịch của ngài, chỉ biết ngài cùng thời với Thế Thân và đã từng lược thích tác phẩm Duy thức tam thập tụng, chỉ rõ diệu ý rất khế hợp của tác giả, các luận sư đời sau đều y cứ vào tác phẩm này, tuy nhiên hiện tác phẩm đã thất truyền.[1]

2.      Hoả Biện – Citrabhāna (Chất-đát-la-bà-nã). Ngài cùng thời với Thế Thân, sanh vào khoảng cuối thế kỷ IV Tây lịch. Văn chương rất đẹp, rất giỏi chú thuật, sống đời ẩn dật nhưng vẫn hết lòng với bạn đồng tu, đạo đức cao thâm.[2]

3.      Đức Huệ - Guṇamati (Cù-nã-mạt-để, Cầu-na-ma-đế, Cù-na-ma-để), sống vào khoảng thế kỷ V – VI Tây lịch, là thầy của An Huệ.

Ngài thông Tam tạng, tỏ lý Tứ đế, thiền định thâm sâu, từng ở trước quốc vương nước Ma-yết-đà (Magadha) nghị luận và đánh đổ luận sư phái Số luận là Ma-đạp-bà (Madhava), từ đó thanh danh của ngài nổi khắp nước. Vua xây chùa cho ngài ở, cúng dường rất nồng hậu. Bấy giờ, các đệ tử của ngoại đạo Số luận bèn đến các nước lân cận chiêu mộ người tài giỏi, tập hợp ở Tuyết sơn, lập đàn nghị luận, ba phen đối luận ngài đều thắng cả.

Sau đó, ngài đến tu viện Na-lan-đà (Nālanda), danh tiếng lại thêm rực rỡ. Rồi ngài cùng với học tăng Kiên Huệ (Sāramati) đến trú ở tu viện A-chiếc-la (Ācāra), nước Phạt-lạp-tì (Valabhi).

Tương truyền, tác phẩm của ngài gồm có Tuỳ tướng luận (tác phẩm này chú thích luận Câu-xá), Trung luận sớ Duy thức tam thập tụng thích. Trong đó, hai cuốn Tuỳ tướng luận Duy thức tam thập tụng thích nguyên bản đã mất. Tuy nhiên, trong Đại tạng kinh của Tây tạng còn có những tác phẩm khác của ngài, đó là Duyên khởi sơ phần phân biệt thuyết luận sớ (Pratītya-samutpā-dādi-vidhaṅga-nirdeśa-ṭīkā) và Giải thoát như lý luận sớ (Vyākhyā-yukti-tīkā), đều là những tác phẩm chú giải luận của Thế Thân.[3]

4.      An Huệ - Sthiramati (Tất-sỉ-la-mạt-để), người Nam Ấn, nước La-la, tức quốc vương Phạt-lạp-tì (Valabhi). Ngài sanh sau Phật Niết-bàn khoảng 1.100 năm, tức khoảng thế kỷ VII – VIII Tây lịch.

An Huệ thấu suốt nội, ngoại điển, tinh thông Duy thức, Nhân minh. Ngài kế thừa tư tưởng của thầy mình là Đức Huệ, và truyền lại cho người đời sau là Chân Đế.

Về mặt học thuật thì An Huệ kế thừa Nan Đà, đồng thời hấp thu sở trường của Trần Na, lấy học thuyết nhị phân và tam phân dung thông với thuyết Duy thức trong Nhiếp Đại thừa luận Biện trung biên luận.

Tác phẩm của ngài gồm có Đại thừa a-tì-đạt-ma tạp tập luận, 16 quyển, Đại thừa quảng ngũ uẩn luận, 1 quyển, Đại thừa trung quán thích luận, 9 quyển, Câu-xá thật nghĩa sớ, 5 quyển, Duy thức tam thập tụng thích luận. Trong đó, tác phẩm Câu-xá thật nghĩa sớ được học giả P. Pelliot phát hiện ở động Đôn Hoàng, sau được đưa vào Đại chính tạng, quyển 29. Còn Duy thức tam thập tụng thích luận (Triṃśikā-vijña-pti-bhāṣya) là tác phẩm giải thích cuốn Duy thức tam thập tụng của Thế Thân. Tác phẩm này mới được tìm thấy nguyên bản bằng Phạn ngữ ở Nepal và đã được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Nhật.[4]

5.      Hoan Hỷ - Nanda (Nan-đà), người đời tôn xưng là Thắng quân tổ sư Nan Đà tôn giả. Ngài là người cùng thời với An Huệ, Tịnh Nguyệt.

Trong các nhà tâm lý học Phật giáo, tức các nhà Duy thức học, ngài và Tịnh Nguyệt chủ trương thuyết Kiến – Tướng nhị phần (hai mặt của nhận thức là chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức), đương thời gọi là ‘nhị phần gia.’

Nan Đà còn nổi danh nhờ kiến lập thuyết Tân huân chủng tử (hạt giống mới huân tập). Ngài phủ nhận thuyết Chủng tử bản hữu, chủ trương rằng mọi chủng tử đều do huân tập hiện đời mà sinh ra, cho nên xưa nay người ta gọi ngài là ‘nhà tân huân.’

Nan Đà cũng từng chú thích tác phẩm Duy thức tam thập tụng của Thế Thân và Du-già sư địa luận của Di Lặc.[5]

6.      Tịnh Nguyệt – Śuddhacandra (Thú-đà-chiến-đạt-la). Ngài cùng thời với An Huệ, tức khoảng đầu thế kỷ VII-VIII Tây lịch.

Ngài từng giải thích Duy thức tam thập tụng của Thế Thân, chú thích Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận của Vô Trước, Thắng nghĩa thất thập luận của Thế thân.

Ngài đồng tư tưởng với Nan Đà, chấp nhận chủ trương của An Huệ, cho rằng thức thứ 8 là thường hằng, không chuyển biến, năng lập và tự lập, cho nên đều không có hữu y. Trên bình diện tương đối, Tịnh Nguyệt cho rằng, thức thứ 8 là chỗ nương tựa của thức thứ 7.[6]

7.      Hộ pháp – Dharmapāla (Đạt-ma-pa-la), người nước Đạt-la-tì-trà (Drāviḍa), Nam ấn, từng thọ pháp và áo nghĩa Duy thức học từ những bậc thầy tên tuổi là Trần-na, Thế thân, Vô trước. Nhờ chú thích tác phẩm Duy thức tam thập mà danh vang thiên hạ.

Ngài thọ mạng ngắn ngủi, sinh năm 530, tịch năm 561, khi mới 32 tuổi! Sau khi xuất gia, ngài đến hoằng pháp tại Na-lan-đà, học trò theo học rất đông, nhưng từ năm 29 tuổi đến cuối đời, ngài trở về ẩn cư tại Bồ-đề đạo tràng, nơi Đức Phật thành đạo, để chuyên tâm thiền quán và trước thuật rồi viên tịch tại đây. Khuy Cơ, trong tác phẩm Thành duy thức luận thuật ký, ghi nhận rằng, sở học của sư “như suối nguồn ở biển sâu, sự hiểu biết lại sáng rỡ như mặt trời, nội điển thông tỏ cả nguyên thuỷ lẫn phát triển, văn chương đẹp cả đời lẫn đạo. Người đời bấy giờ đều tán thán rằng, Phật giáo có người này cũng giống như mặt trời, mặt trăng toả ánh sáng làm đẹp bầu trời, cũng như đứng nhìn ra biển cả thấy đất trời mênh mông không bờ bến. Từ thời ngài Thiên Thân trở về sau chỉ có một người này mà thôi!"[7]

8.      Thắng Hữu - Viseṣamitra (Tỳ-thế-sa-mật-đa-la), sống cuối thế kỷ VI Tây lịch, là đệ tử của ngài Hộ Pháp, tu ở tu viện Na-lan-đà, Ấn Độ. Hành trạng của sư bất tường.

9.      Thắng Tử - Jinaputra (Chấn-na-phí-đa-la), còn gọi là Tối Thắng Tử, sống vào khoảng cuối thể kỷ VI Tây lịch, đồng môn với Thắng Hữu, cùng là đệ tử của Hộ Pháp. Tác phẩm của ngài gồm có Du-già sư địa luận thích, Chú thích Duy thức tam thập tụng, Bồ-tát giới phẩm thích, Tập luận thích…

10.  Trí Nguyệt – Jñānacandra (Nhược-na-chiến-đạt-la), đệ tử của ngài Hộ Pháp, là học tăng ở Đại học Na-lan-đà. Hành trạng bất tường.

Theo sự giới thiệu trong Thành duy thức luận thuật ký thì, Thân Thắng, Hoả Biện là hai luận sư sống cùng thời với Thế Thân và chính là hai người đầu tiên lược thích tác phẩm Thành duy thức luận. Đức Huệ thì cùng thời với Trần Na và là thầy của An Huệ. Tịnh Nguyệt, Nan Đà, An Huệ cũng là người sống cùng thời đại. Hộ Pháp từng học với Trần Na, còn Thắng Hữu, Tối Thắng Tử và Trí Nguyệt cả ba người đều là học trò của Hộ Pháp.

Mười đại sư trên đều có công phát triển ngành tâm lý học Phật giáo, nhưng cũng có lập trường riêng, chứ không phải cùng thống nhất hoàn toàn về mọi quan điểm. Chẳng hạn, đối với khái niệm chủng tử, Nan Đà chủ trương thuyết tân huân, Hộ Nguyệt (không nằm trong số 10 luận sư) lại chủ trương thuyết bản huân, trong khi đó Hộ Pháp thì chủ trương thuyết bản hữu tân huân hợp sinh. Đối với thuyết tứ phần[8], Hoả Biện và Trần Na[9] cùng chủ trương thuyết tam phần; Thân Thắng, Đức Huệ chủ trương thuyết nhị phần; An Huệ chủ trương thuyết nhất phần, Nan Đà, Tịnh Nguyệt chủ trương thuyết Nhị phần (nhưng khác với Thân Thắng và Đức Đuệ).

Trong lai luận điểm trên đây thì quan điểm của Hộ Pháp và An Huệ có uy lực hơn hết, sau này Huyền Tráng, Chân Đế… đều ảnh hưởng bởi Hộ Pháp. Trong quá trình phát triển ngành tâm lý học Phật giáo, học thuyết và duy danh của Hộ Pháp độc cứ một phương, cho nên mọi nghiên cứu đều lấy tư tưởng của Hộ Pháp làm chỉ nam. Do đó, tác phẩm Thành duy thức luận dù được 10 Đại luận sư hợp sức luận thích mà thành, nhưng chủ yếu lấy học thuyết của Hộ Pháp làm trọng tâm. Tác phẩm ấy hầu hết là làm sáng tỏ học thuyết của Hộ Pháp, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu!

Tác phẩm giải thích luận hiện còn được lưu truyền trọn vẹn nhất là tác phẩm Tam thập tụng thích luận (Triṃśikā-bhāṣya) của An Huệ, còn cả nguyên bản tiếng Phạn và bản dịch tiếng Tây Tạng.

Khi Huyền Tráng, người Trường An, Trung Quốc, du học Ấn Độ, đã học được các kinh luận trên, nên sau khi trở về nước ông đã phiên dịch và truyền bá kinh luận của trường phái tâm lý học du-già, đồng thời hoằng tuyên huyền chỉ của pháp tướng duy thức. Những người đến thọ giáo với Huyền Tráng về giáo nghĩa của tông này rất đông, đặc biệt có các học trò trứ danh như Khuy Cơ, Thần Phưởng, Gia Thượng, Phổ Quang, Thần Thái, Pháp Bảo, Huyền Ứng, Huyền Phạm, Biện Cơ, Ngạn Tông, Viên Trắc…Trong đó, Thần Phưởng đã sáng tác Duy thức văn nghĩa chương ký; Huyền ứng trước tác Duy thức khai phát; Viên Trắc sáng tác Giải thâm mật kinh sớ, Thành duy thức luận sớ… Rồi Đạo Chứng trước tác Duy thức luận yếu tập. Thái Hiền, Thiền tăng nước Tân-la học từ Đạo Chứng được yếu chỉ của luận đã viết ra Duy thức luận cổ tích ký, sau người đời tôn xưng ông là Tổ của Du-già ở Đông Hải.

Khuy Cơ, học trò đắc pháp của Huyền Tráng, chính thức trở thành người kế thừa Pháp tướng tông, trú ở chùa Đại Từ Ân, Trường An, đã làm sáng rỡ ngành tâm lý học một thời. Người đời đã tôn xưng ông là Từ Ân Đại sư. Ông trước tác Du-già sư địa luận lược toản, Thành duy thức luận thuật ký, Thành duy thức luận chưởng trung khu yếu, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương… tập thành Bổn tông tập.

Tiếp đến, Huệ Chiểu trước tác Thành duy thức luận liễu nghĩa chứng, đả phá những ý nghĩa sai lầm của Viên Trắc… Về sau còn có Đạo Ấp, Trí Châu, Nghĩa Trung… Trí Châu viết Thành duy thức luận diễn bí, phát dương u chỉ của Thành duy thức luận thuật ký, đồng thời ông cũng chú giải những ý nghĩa khó hiểu trong đó.

Ba tác phẩm Thành duy thức luận chưởng trung khu yếu, Thành duy thức luận liễu nghĩa chứng, Thành duy thức luận diễn bí, đã tập hợp thành tên gọi Duy thức tam sớ, góp phần củng cố thế đứng của ngành tâm lý học Phật giáo tại Trung Quốc trong thời kỳ trăm hoa đua nở, các tông phái khác như Thiền tông, Hoa nghiêm… ngày một hưng thịnh.

Thế nhưng, một thời gian sau, ngành tâm lý học Pháp tướng tông nhanh chóng suy yếu, nhường chỗ cho Thiền tông và Hoa nghiêm tông… hưng thịnh. Đến triều nhà Tống trở về sau thì Pháp tướng tông mất hẳn sự ảnh hưởng và tưởng chừng không còn dấu tích. Mãi đến triều nhà Minh, Trí Húc Đại sư đã viết Thành duy thức luận tâm yếu, Minh Dục sáng tác Thành duy thức luận tục thuyên, Thông Nhuận viết Thành duy thức luận tập giải, Quảng Thừa sáng tác Thành duy thức luận âm nghĩa v.v… đã vực dậy tư tưởng Pháp tướng tông một thời. Tuy vậy, phải đến thời Dân Quốc trở về sau, Âu Dương Cánh Vô (1872-1944) mới đại xương bổn tông, sáng lập Chi-na nội học viện, Pháp tướng đại học, phân chia bổn tông thành hai khoa là Vô trước pháp tướng học và Thế Thân duy thức học. Thái Hư Đại sư cũng cật lực phát huy tư tưởng của tông này. Ngoài ra, Chiếu Thập Lực (1882-1968) cũng có sáng tác Tân duy thức luận, và đã từng tranh biện với Ấn Thuận Đại sư, làm khơi dậy lòng đam mê nghiên cứu tâm lý học Phật giáo. Dù vậy, đến nay mọi nghiên cứu về Du-già, Duy thức hay tâm lý học Phật giáo đều chuyển hướng sang phương Tây và ít nhiều đã gây chú ý cho ngành phân tâm học hiện đại.


 

[1] ĐTK/ĐCTT, T.43, n°. 1830, p. 231b27.

[2] Sách dẫn thượng.

[3] Xem Lịch đại Tam bảo kí, quyển 11; Đại Đường Tây Vức ký, quyển 8, 9, 11; Nam hải ký quy nội pháp truyện, quyển 4…

[4] Xem Thành duy thức luận chưởng trung khu yếu; Thành duy thức luận đồng học sao; Nam hải ký quy nội pháp truyện…

[5] Xem Thành duy thức luận, quyển 1; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng

[6] Sách dẫn thượng.

[7] ĐTK/ĐCTT, T. 43, n°. 1830, p. 231b27.

[8] Tướng phần, kiến phần, tự chứng phần và chứng tự chứng phần.

[9] Trần Na không nằm trong danh sách 10 Đại luận sư cùng sáng tác Thành duy thức luận, nhưng cũng đóng góp rất lớn trong ngành tâm lý học Phật giáo.


Trên Facebook

 

Âm lịch

Ảnh đẹp

Từ điển Online

Từ cần tra:
[Dịch văn bản]
Tra theo từ điển: