CHƯƠNG BA
KHUNG CẢNH
LỊCH SỬ
QUANH BỘ KINH “MILINDA VẤN ĐẠO”
(MILINDA-PANHÀ) HAY “NA-TIÊN TỲ KHEO KINH” CỦA PHẬT GIÁO
Dẫn Nhập:
Thông thường ai cũng nghĩ
rằng đạo Phật chỉ mới được truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây
mà thôi, mà quên rằng trong nhiều thế kỷ trước tây lịch Phật giáo (viết
tắt: PG) đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên cả
nền triết học Hy-lạp và giáo lý của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc tây
phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ
Trung quốc nên ít biết đến sự giao hòa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG
khởi đầu rất sớm ở vùng đất này.
Ngay cả khi đức Phật Thích Ca
còn tại thế, vùng đất xa xôi này đã tiếp xúc với PG rồi. Trong một bộ kinh
của Thượng tọa bộ (Theravada) có ghi câu chuyện hai thương nhân, tên
Tapassu và Bhallika từ xứ Bactria tìm đến viếng đức Phật và đã trở thành
đệ tử. Lúc về xứ họ đã xây dựng nhiều đền đài thờ Phật.
Khi Alexander xâm chiếm
Bactria vào 329-327 TTL (cùng khỏang với thời Chiến quốc bên Tàu: 403-221
TTL), thì vùng này đã thuần PG. Đến thời của hòang đế Asoka Maurya (từ 269
đến 232 TTL), thì biên cương của Ấn Độ được mở rộng bao gồm luôn vùng
Gandhara nhờ đuổi được quân Hy lui về bên kia dãy núi Hindu-Kush. Ông cũng
đã gởi nhiều đòan truyền giáo được ra hải ngọai để truyền bá Phật pháp, do
đó PG đã được lan tràn mạnh mẽ hơn.
Chính từ những hạt giống PG
do hoàng đế Asoka gieo ở vùng này dần lớn mạnh và đã để lại ảnh hưởng khá
sâu đậm trong vùng tây bắc Ấn, và còn lưu mãi đến nay như ảnh tượng đức
Phật theo mỹ thuật Hy-lạp, những ý niệm manh nha của PG đại thừa phát sinh
từ những trung tâm văn hóa PG có một thời rất rực rỡ, và một bộ kinh không
kém phần quan trọng, đó là bộ Milinda-Panhà, đã được Việt dịch là "Di
Lan Ðà vấn kinh"
hay dưới nhiều tên tương tự.
Bài khảo luận này không bàn
sâu vào giáo nghĩa của bộ kinh, vốn đã có nhiều tác giả đã luận giải, mà
chỉ chú trọng vào lược sử thời đại của hai nhân vật chính của bộ kinh đã
sống, đó là vua Mi-Lan-Đà và tỳ kheo Na-Tiên.
Vương quốc Bactria và xứ
Gandhara ở đâu?
Đối với dân Aryans đã tràn
vào đất Ấn (Arya-Varta) hơn 15 thế kỷ TTL, thì vùng tây bắc Ấn là đất của
Gandharvas hay chư thiên với ngọai hình tuyệt hảo, rành về âm nhạc, giỏi
về thần thông, vốn thường được nói đến trong Kinh Rig-Vedas (Vệ đà), một
bộ lịch sử cổ nhất của nhân lọai, cho nên dân Ấn gọi vùng này là xứ
Gandhara với kinh đô Taxila (tiếng Sankrit là Takshasila, gần Rawalpindi
thuộc Pakistan bây giờ), nay thuộc Afghanistan và Pakistan, nơi phì nhiêu
với 5 con sông chảy qua nên Hán văn còn gọi là vùng Ngũ Hà, chính là phụ
lưu của con sông Indus bắt nguồn từ Hy-mã-lạp-sơn. Sau khi nền văn minh
của thung lũng sông Indus bị tàn lụi thì vua Darius (522 to 486 TTL) dẫn
quân Persia chiếm vùng này.
Vào thời bấy giờ lối giao
thương chủ yếu dựa vào đường bộ, và vùng ấy lại nằm trên tuyến chiến lược
từ châu Âu ở phía tây qua châu Á ở phía đông, từ Trung Á ở phía bắc xuống
lục địa Ấn ở phía nam, cho nên dân tình vùng này không bao giờ được yên ổn
lâu dài vì các thế lực đế quốc luôn luôn xâm lăng nó để làm bàn đạp tiến
xa hơn.
Ngày nay, các tư liệu về gai
đoạn lich sử này đã được công bố rất dồi dào, và bài này đã chọn lọc, so
sánh và tổng hợp từ rất nhiều nguồn khác nhau như sử liệu cổ của các nước
trong vùng Pakistan, Afghanistan và Trung đông do các tác giả hiện đại
biên sọan, từ những cổ vật do các nhà khảo cổ ngừơi Pháp đào xới được, từ
rãi rác trong thánh điển Pali và đại thừa, các ảnh tượng đức Phật tồn tại
đến nay vv… Ở đây cũng xin được lưu ý đọc giả đến nguồn sử liệu quí giá về
các vị vua gốc Hy-lạp ở vùng Tiểu Á đã được hai nhà sử học danh tiếng
Hy-lạp cổ là Strabo và Plutarch ghi lại.
Strabo (sinh 63 hay 64 TTL,
mất khoảng 24 TL), một sử, triết và địa lý gia Hy-lạp. Tác phẩm nổi danh
của ông là Geographia, gồm 17 cuốn viết vào khỏang năm 7 hay 18 TL về nhân
vật, địa danh, trên thế giới Hy-La vào thời ông.
Plutarch, tên đầy đũ là
Mestrius Plutarch, một nhà sử học và tiểu sử danh nhân học, cũng là người
Hy-lạp sau Strabo (khỏang 45-125 TL). Ông sinh vào thời của hòang đế La mã
Claudius. Ông tham quan rộng rãi vùng Địa trung hải, và về sau giảng dạy
tại Rome, kết giao với nhiều nhân vật chính trị uy quyển trong Thượng
viện. Cuối đời, ông quay về sinh quán là Chaeronea ở Hy-lạp, trở thành một
trong hai tu sĩ chính trong đền thờ Apollo ở Delphi, chuyên giải những lời
sấm của thần Pythia. Ông còn được hòang đế Trajan cử làm thái thú tại vùng
Achaea. Trong thời gian này ông viết nhiều bộ sử quan trọng.
Tác phẩm nổi danh của ông là
“Cuộc đời của những danh nhân Hy-lạp và La mã (Lives of the Noble
Greeks and Roman)”; nhưng bộ sách còn được chú trọng khác là “Những
cuộc đời tương đồng” (Parallel Lives) so sánh 23 cặp danh nhân Hy và
La; và “Cuộc đời của Alexander”(Life of. Alexander). Nói chung những tác
phẩm của ông đã ảnh hưởng rất nhiều đến nền văn học và kịch nghệ tây
phương, ngay cả Shakespeare cũng thường tham chiếu.
Trước đấy, vua Darius I
(521-486 TTL) của Persia cũng đã sai người xứ Carian tên Scylax thám hiểm
vùng tây bắc Ấn, và đã ghi lại trong cuốn ``Peripulus''. Không lâu sau
Hectaeus (500 TTL) và Herodotus (483-431 TTL) cũng có viết về các thái thú
(Satrapy) người Persia ở vùng này.
Đến thời vua Alexander, những
cuộc khảo sát cũng đã được ghi lại bởi Strobe, Ptolemy, Pliny, Arrian và
nhiều người khác. Họ cho biết 5 phụ lưu của sông Indus là Hydaspes
(Jehlum), Akesines (Chenab), Hydroatis (Ravi), Hyphasis (Satluj) và
Hesidros (Beas); làm biên giới cho 4 vương quốc trước khi Alexander xâm
lăng.
Núi Tu-di: (Còn gọi là Meru
hay Meros):
Trong văn chương và các tôn
giáo gốc Ấn đều xem nó như là một ngọn núi thần thọai và là trụ chống của
quả đất, và theo Ấn giáo thì đó cũng là trú xứ của vị thần Shiva hay
Vishnu.
Nhưng đạo quân xâm lăng của
của vua Alexander sau khi tiến vào vùng Gandhara, đã tin là họ đã khám phá
ra ngọn núi Meros và thành Nysa trên ấy, nằm khỏang giữa hai thành Kapisa
và Peucelaotis. Cũng theo thần thọai Hy-lạp thì đó là nơi sinh của thần
Dionysus (đồng hóa với thần Shiva).
Philostratus (khỏang
175-245) đã thuật lại trong cuốn “Life of Apollonius of Tyana”chuyện
chàng Apollonius viếng thăm Gandara và sau nhiều nổi thăng trầm trèo đèo
vượt suối đã lên đến đỉnh ngọn Meros, nơi có đền thờ thần Dionysus với
tượng đá trắng mang dáng vẻ người thanh niên Ấn. [Philostratus, Live of
Apollonius of Tyana 2.8; dịch bởi F.C. Conybeare]
Sự Hưng Thịnh của triều đại
Maurya ở Ấn:
Khỏang TK 4 TTL kinh đô
Pataliputta (Thành hoa thị - nay là thành phố Patna) của nước Magadha
(Ma-kiệt-đà) trở thành trung tâm quyền lực của Ấn. Ngay trong Kinh Đại Bát
Niết Bàn, hệ Pali (Maha-parinibbana sutta) nói về những năm sau cùng của
đức Phật tại thế, Ngài đã ước đóan sự phồn thịnh của thành Pataliputta về
mọi mặt. Phật dạy: “ … Này Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ
nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất
tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda,
Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.”
[Trong
Trường Bộ Kinh
(Digha Nikaya): Tập 1; Kinh
số 16; Tụng phẩm 1; Đọan 28 – bản dịch của HT. Thích Minh Châu]. Bấy giờ
có vua Mahàpadma Nanda thay thế triều đại Haryanka cai trị một vùng rộng
lớn từ sông Brahmaputra ở phía đông đến Beas ở phía tây.
Năm 327 TTL, Đại đế trẻ tuổi
của Hy-lạp Alexander đã bành trướng đất đai, đem quân đánh bại quân Persia
và thâu tóm luôn vùng Tiểu Á. Hai năm kế, ông ổn định vùng Hindu Kush và
Bactria (Baluchistan - bắc A-phú-hản), thiết lập lên nhiều thành phố như
Samarkand, Leninabad (thuộc Nga ngày nay) và Chankar (phía bắc Kabul), tái
dựng cố đô Kapisa và đổi tên là Alasandra gần Caucasus (để khỏi bị nhầm
với Alexandria ở Ai-Cập) v..v...
Thừa thắng ông định vượt sông
Indus năm 325 TTL để tiến chiếm Ấn thì bị chận lại ở sông Jhelum (hay
Hydaspes), vùng Taxila (Takkasala) bởi một tiểu vương Paurava biết dùng
voi trận, và rồi sự chống trả mãnh liệt của tướng Chandragupta Maurya;
Alexander đành rút về Babylon và chết ở đấy vì bệnh sốt rét. Ngay sau khi
Alexander mất vào ngày 10 tháng 6, năm 323 TTL, các tướng tùy tùng
(diadochi hay diadochoi) liền chia cắt đế quốc thành những vương quốc để
tự mình cai trị. Seleukos I Nicator kế vị Alexander năm 323 TTL đóng đô ở
Babylon, lập nên triều đại Seleukos cai trị một đất nước rộng lớn bao gồm
các nước ngày nay là Syria, Lebanon, Jordan, Mesopotamia, Persia, và
Bactria. Phần đất ở Ai-cập thì hậu duệ của tướng Ptolemy Soter thay nhau
trị vì; và ở Hy-lạp thì do Antigonus Monopthalmos nắm giữ. Những năm chiến
tranh dành quyền lực kế tiếp của các dòng họ này đã làm dân tình vùng Tiểu
Á và Tây bắc Ấn bị khổ nạn triền miên.
Trong khi đó ở Ấn vào năm 321
TTL. Chandragupta lật đổ Nanda và lập ra triều đại Maurya.
Hòang đế
Seleukos I Nicator
Năm 304 TTL Seleukos I lại cố
xâm lăng Ấn lần nữa, nhưng cũng bị đẩy lui bởi Chandragupta Maurya. Sử cho
rằng Chandragupta đã xử dụng đến 100,000 lính và 9,000 voi trận. Sau cùng
Seleukos I đành lập hòa ước nhượng vùng Baluchistan và gã con gái cho
Chandragupta để đổi lấy 500 thớt voi. Seleukos I còn gởi sứ thần là
Magasthenes đến ngụ ở kinh đô Panaliputta (Thành hoa thị) dưới triều
Chandragupta, mà đến nay những tấu chương của ông vẫn còn tồn tại để hậu
thế biết được sinh họat chính trị của xứ Magadha thời bấy giờ.
Chandragupta tri vì được 23
năm, người con trai kế vị là Bindusara ở ngôi được 25 năm và mất năm 273
TTL. Vua Bindusara cũng có một sứ thần Hy-Bactria tại triều tên là
Deimachus (Strabo 1–70), và luôn giao hảo tốt đẹp với vua Antiochus I
Soter thuộc dòng Seleukos.
Sau khi vua Bindusara băng
hà, trong vòng 4 năm có sự tranh dành ngôi giữa thái tử Tissa đang làm phó
vương ở Ujjeni phía nam và một hòang tử khác tên là Asoka làm phó vương ở
Taxila. Sau rốt thái tử bị giết trong trận và Asoka lên ngôi hòang đế năm
269 TTL, cai trị một lãnh thổ rộng lớn từ Bengal đến Afghanistan, oai hùng
nhất trong lịch sử Ấn. Chỉ sau khi cuộc xâm lăng đẩm máu nước Kalinga
(bang Orissa ngày nay) 8 năm sau khi lên ngôi, vua Asoka mới hối hận và
thành tâm qui y Phật giáo, đã dốc lòng khuyếch trương đạo Phật ra khắp
nơi. Ông cũng đã gởi nhiều đòan truyền giáo ra hải ngọai, trong số đó có
đại sư Dharmaraksita họat động rất tích cực ở vùng tiểu Á. (Mahavamsa,
XII).
Asoka có một mối quan hệ đặc
biệt với vùng tây bắc Ấn, bởi ông đã từng làm phó vương ở đấy và đóng dinh
tại Taxila (tiếng Sankrit là Takshasila, gần Rawalpindi thuộc Pakistan bây
giờ). Taxila bấy giờ đã là một trung tâm danh tiếng về thương mãi, triết
và thần học, đặc biệt là Ấn giáo và PG. Nhiều tư tưởng gia nổi danh đương
thời đã lui tới tầm đạo, và ông đã từng gọi thần dân gốc Hy-lạp ở vùng ông
cai trị là Yavanas. Đến khi ông trở thành hòang đế và ủng hộ PG thì vùng
này trở thành một trung tâm PG nổi danh.
Ngày nay người ta biết đến
rất nhiều pháp dụ khắc trên đá do ông sai dựng lên khắp đế quốc; trong số
đó những bia ký ở thung lũng Kabul được ghi bằng tiếng Hy-lạp và Aramaic,
và nội dung còn cho biết là ông đã cho truyền bá chánh pháp đến các nước
Ai-cập, Syria, Macedonia, Greece, Cyprus, Bactria, Kashmir, Gandhara,
Himalayas, Sindh (Gujarat), vv.
Sau khi Asoka mất vào năm 227
TTL thì đế quốc Maurya bắt đầu tan rã. cùng với cái lý tưởng tâm nguyện
của ông là dharmarajya (thuận trị theo Chánh Pháp), mặc dù các con của ông
ráng giữ ngôi vị thêm khỏang nữa thế kỷ nữa. Năm 185 TTL, vị vua cuối của
dòng Maurya là Brihadratha, bị tướng Pusyamitra Sunga truất phế và lập ra
triều đại Sunga (185-78 TTL). Vua Pusyamitra Sunga liền thi hành chính
sách ủng hộ Ấn giáo và tàn hại PG.
Vì thế kể từ năm 180 TTL các
vua xứ Bactria từ Demetrios I, Demetrios II đến Menander vốn tôn sùng PG
đã liên tục xâm lăng Ấn nhân danh giải cứu PG.
Sự hưng thịnh của Vương quốc
Bactria (hay Bactriana)
và cuộc chinh phục đất
Ấn:
Vào năm 281 TTL vua Seleukos
I bị ám hại, và sau khi ông chết thì đế quốc Seleucid cũng bị chia thành 2
xứ: Syria (với vua Antiochos I, dòng dõi của Seleukos) và Parthia (với vua
Arsaces).
Vua Antiochos I cử Diodotos
làm thái thú ở xứ Bactria (Kinh sách Hán văn gọi là nước Đại Hạ, vùng bao
gồm Pakistan và Afghanistan bây giờ). Bactria (hay Bactriana - tiếng Iran
cổ là Paktra) là một xứ màu mở nằm giữa dãy núi xanh Hindu-Kush
(Paropamisus) và con sông Amu Darya (Oxus).
Khi thấy Syria và Parthia mãi
lo tiêu diệt lẫn nhau, Diodotos tự xưng làm vua vào năm 255 TTL, đóng đô ở
Bactra - nay là Balkh, tên cũ là Taxila – rồi chiếm luôn xứ Sogdiana ở
phía bắc. Tuy vậy vua Antiochus III của Syria lại xua quân tái lập nền
thống trị lên Bactria.
Mãi đến khi Antiochus III bị
quân La-mã đánh bại thì ở Bactria, Euthydemos vốn là một đại thần của
Diodotos, lên ngôi năm 227 TTL và đẩy lui được những đợt tấn công của vua
Antiochos III. Năm 205 TTL. Euthydemos I đã chống cự được cuộc vây hảm
thành Bactra sau hơn hai năm, rốt cuộc Antiochos III đành giảng hòa rút
quân và gả con gái cho con trai của Euthydemos I là Demetrios. Từ đó vương
quốc Bactria mới hòan tòan độc lập, và các vị vua cai trị được sử gọi là
vua Hy-Bactria.
Vua
Diodotos
Về sau, Euthydemos I còn bành
trướng đất đai mãi đến vùng Tiểu Á. Strabo đã viết “họ bành trướng vương
quốc xa đến vùng Seres và Phryni” (Strabo XI.II.I). [Chú thích thêm: Có lẽ
Phryni ở đây phải được viết là Phrygia].
Vua Demetrios I (khỏang 200-180 TTL) Người chinh
phục Ấn.
(chân dung trên đồng tiền cổ).
Sau khi Euthydemos I mất năm
200 TTL, con là Demetrios I kế vị và năm 180 TTL kéo quân xâm lăng đất Ấn
sáp nhập thung lũng Indus (vùng Ngũ Hà) vì chính sách bách hại PG của vua
Ấn là Sunga. Từ đó các vua Bactria được gọi là Hy-Ấn. Đến năm 170 TTL đời
vua Demetrios II quân Bactria tiến được đến miền đông vây hãm lâu dài kinh
đô Ấn là thành Pataliputra, sau khi chiếm bán đảo Surastra (Kathiavar),
Gandhara, và Vahika (Punjab bây giờ). Vương quốc Ấn của triều Sunga bị thu
hẹp ở phía đông.
Năm 169 TTL, trong khi vua
Demetrios II đang hành quân ở miền đông Ấn thì tướng Eucratides I cướp
ngôi ở kinh đô Bactra tự lập làm vua. Trên đường trở về kinh dẹp lọan thì
vua Demetrios II bị tử thương. Em là Apollodots I lên thay, nhưng không
bao lâu sau cũng bị Eucratides I tấn công hạ sát vào năm 165 TTL. Vương
quốc của Eucratides I cũng bị tan rã nhanh chóng sau khi ông bị giết năm
150 TTL.
Một bộ tướng tin cẩn của vua
Demetrios II là Menandros (còn viết là Menander) lên kế vị. Vua Menander
liền dời đô về Sagala (Xá Kiệt) và ngưng cuộc vây hảm Pataliputra. Khi rút
quân về lại Sakala, ông mang theo về cái lý tưởng thuận trị theo Chánh
Pháp của Asoka. Nhờ vậy Phật pháp lại được tiếp tục truyền bá mạnh đến cố
đô Taxila rồi vùng Trung Á và còn xa hơn nữa. Ông trị vì được 35 năm,
nhưng sau khi ông mất thì vương quốc rộng lớn của ông bắt đầu bị chia xẻ
thành nhiều tiểu quốc.
Sagala (bây giờ là Sialkot ở
Punjab), kinh đô mới của nước Bactria, nơi có cuộc đàm đạo giữa vua
Menander và tỳ kheo Nagasena tại chùa Sankheyya, là một vùng rất phì
nhiêu, nằm giữa hai con sông Chenab và Ravi gần biên giới của Kashmir, mà
trong bộ kinh (Miln. trang 83 – câu 5, Chương 7) đề cập đến là cách
Kashmir 12 do-tuần (yojanas) tức khỏang 84 miles.
Tổng cộng có cả thảy hơn 30
vị vua Hy-Ấn (Indo-Greek Rulers) trong vùng đã cai trị trong vòng 2 thế kỷ
từ 323 đến 10 TTL. Các triều đại huy hòang của Hy-Ấn bị suy tàn kể từ 130
TTL và sau rốt bị người Kushan chiếm đọat. Vua cuối cùng là Strato II, tại
vị từ 40-10 TTL.
Phổ Hệ của những vị vua của
vương quốc Bactria với các năm trị vì:
Vương quốc Hy-Bactria
(Greco-Bactrian Kingdom):
Sophytes hay Seleukos
(305-294 TTL)
Diodotos I (khỏang 250
– 230 TTL)
Diodotos II
Euthydemos I; lật đổ
Diodotos (khỏang 230-200 TTL)
Vương quốc Hy-Ấn
(Greco-Indian Kingdom):
Demetrios I (khỏang
200-180 TTL) Con của Euthydemos I. Người đã chinh phục được Ấn.
Euthydemos II (190-171
TTL) Con của Demetrios I
Pantaleon (190-180
TTL) Con của Demetrios I
Demetrios II (175-170
TTL)
Apollodotos I (khỏang
174–165 TTL) Em của Demetrios II, sau bị phản lọan Eucratides I giết.
Antimachos I (171-160
TTL):
Agathokles (171-160
TTL) Con của Demetrios I đồng trị với Antimachos I
Menandros (khỏang 173–130
TTL) Kế vị Apollodotos I.
Eucratides I (171-145
TTL)
Eucratides II (145-140
TTL)
Epander (135 - 130
TTL)
Strato I (125 - 110
TTL)
Zoilos I (130 - 120
TTL)
Lysias (120 - 110
TTL)
Antialcidas (115 - 95
TTL)
Heliokles II (110 -
100 TTL): Vị vua sau cùng của vương quốc Bactria.
Philoxenus (khỏang
100–95TTL)
Demetrios III &
Aniketos (khỏang 100 TTL)
Diomedes (95 - 90
TTL)
Amyntas (95 - 90 TTL)
Theophilos (khỏang 90
TTL)
Peukoloas (khỏang 90
TTL)
Nicias (khỏang 90–85
TTL)
Menander II & Dikaios
(90 - 85 TTL)
Archebios (90 - 80
TTL)
Hermaeus (khỏang 90–70
TTL)
Apollodotus II (80 -
65 TTL)
Hippostratos (65 - 55
TTL)
Dionysios (65 - 55
TTL)
Artemidoros (60-40
TTL)
Zoilos II (55 - 35
TTL)
Apollophanes (35 - 25
TTL)
Strato II (40 - 10
TTL)
Hermaeus (10-1 TTL)
(Có vẽ không thực trị mà chỉ được truy phong sau khi mất).
Vua Menander hay Menandros:
Chân dung Vua
Menander, vương quốc Bactria, được khắc trên đồng tiền cổ. (National
Museum, New Delhi)
Vua Menander (có chỗ khác
viết là Menandros, Minedra hay Menadra; tiếng Pali là Milinda) trị vì
khỏang từ 160 – 135 TTL, là vị vua vĩ đại trong những vua Hy-Ấn, đã cai
trị một vùng rộng lớn ở tây bắc Ấn, được gọi là vương quốc Bactria thụôc
bán lục địa Ấn, chạy dài hướng tây đông từ thung lũng Kabul đến sông Ravi,
hướng bắc nam từ thung lũng Swat (Pakistan ngày nay) đến Arachosia (thuộc
Afghanistan ngày nay), và vịnh Arab.
Menander sinh năm 183 TTL ở
“Alasandra” (mà ngày nay được biết là Alexandria của vùng Caucasus hay
Alexandria trên sông Oxus), vốn là kinh đô Kapisa của vùng Gandhara cổ đã
bị Alexander đổi tên vào năm 329 TTL, cách 150 km phía bắc Kabul ngày nay;
và theo bộ kinh Milinda-Panha thì cách Sagala 200 yojanas, và lớn lên ở
thung lũng Kabul. Có học giả cho ông là cháu của vua Demetrios II; khi lớn
lên trở thành một bộ tướng anh dũng của Bactria, đã từng theo phò vua
Demetrios II đánh đuổi quân Parthians ở phía tây và uy hiếp Pataliputra,
kinh đô của Ấn ở phía đông.
Menander đã được thần dân
ngưỡng mộ vì tư cách đạo đức, có tài điều binh khiển tướng, cách trị quốc
công minh, lối đối xử bình đẵng với các truyền thống Hy, PG, Ấn giáo và
Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism), làm cho nước mạnh dân giàu. Ông còn được
mọi người kính trọng xem như là Vua Công Chính, Dharmaraja. Khi về già ông
lại thường hay chú trọng đến việc thảo luận về triết và thần học. Ông hay
tranh biện với những tư tưởng gia của nhiều đạo phái khác nhau và thường
làm cho họ sững sốt về những sự hiểu biểt rất thâm sâu của ông. Trong một
cuộc gặp mặt như thế với tỳ kheo Nagasena, vua Menander đã bái phục và xin
quy y theo PG. Ông đã cho xây một tăng viện lớn cho Nagasena tại kinh đô
Sagala gọi là Milindavihara. Sau đó ông đã nhiệt tâm hổ trợ PG.
PG dưới triều Menander có một
địa vị rất quan trọng. Một đọan trong bộ Mahavamsa của Sri-Lanka đã ghi: “Nhân
có lễ đặt đá cho việc xây Đại Tháp tại Anuradhapura ở Sri-Lanka, một phái
đòan tăng già Hy-lạp (tiếng Pali: Yona) gồm 30 ngàn người dẫn đầu bởi đại
sư Mahadhammarakkhita (Sanskrit: Mahadharmaraksita) đã đến từ Alasandra”
(Mahavamsa - XXIX).
Sử gia La-mã Trogus Pompeius
đã đề cập đến các vua Apollodotus và Menander trong bộ sử dày cộm của ông.
Hai nhà sử học danh tiếng Hy-lạp là Strabo và Plutarch cũng viết khá nhiều
về công trạng của vua Menander, đã cho thấy ông không những nổi danh ở
vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn mà còn được đề cao ở thế giới Hy-La về sau.
Strabo (XI. 516) cho rằng Menander đã chinh phục nhiều bộ lạc hơn cả
Alexander, khi ông vượt dãy Hypanis về phía đông để đến Isamus. Ông ta còn
chiếm xứ Patalene ở đầu lưu vực sông Indus, đến bờ biển Saraostes, và bành
trướng đến Seres (Trung quốc) và Phryni.
Bộ sưu tâp cổ vật của Mir
Zakah gồm 521 đồng tiền dưới triều Menander đã được công bố gần đây chứng
tõ triều đại lâu dài của ông và sự buôn bán thịnh vượng trong nước. Nhiều
đồng tiền đào xới được trong vùng từ Afghanistan đến trung Ấn dưới triều
Menander đều có khắc hình ông qua nhiều thời kỳ, lúc trẻ và lúc già cùng
với bánh xe pháp. Những đồng tiền khác với chân dung của vua Menander mang
dòng chữ “Vua cứu độ Menander” bằng chữ Hy-lạp Basileos Sothros Menandroy
ở một mặt, và mặt kia mang dòng "Maharajasa Dharmika Menandrasa" (Vua vĩ
đại Menander truyền bá PG) bằng chữ Prakrit và Kharoshthi.
Vua cứu độ Menander
(khỏang 173–130 TTL).
Theo văn học truyền thống của
PG thì ông đã nhường ngôi cho con để lui về ở ẩn ở tăng viện, nhưng
Plutarch đã ghi là ông chết trên chiến trường trong cuộc viễn chinh tái
chiếm Bactria bất thành khỏang 130 TTL. Plutarch (Praec. reip. ger. 28,
6) đã viết về vua Menander như sau: ”Ông là một vị vua nổi danh rất chính
trực và được lòng dân dến độ khi ông mất ở trận tiền, nhiều thành phố đã
tranh nhau tro cốt của ông; sau cùng đã đồng ý chia đều để mang về tôn thờ
trong các ngôi tháp lớn”.
Tỳ Kheo Na-Tiên (Nagasena):
Nagasena, theo tiếng Sanskrit
có nghĩa là “đòan quân rồng”. Tư liệu hiện lưu truyền về tiểu sử của ngài
đã ít lại rất mơ hồ, lắm khi còn mâu thuẫn nhau nữa. Có khá nhiều lý do để
giải thích việc này: 1) Có thể vì truyền thống PG không coi trọng bản ngã
và danh vọng nên đã không lưu lại nhiều chi tiết. 2) Đối với các nhân vật
tôn giáo nổi danh ở vào thời đại của Nagasena, chuyện thật nhiều khi được
thần bí hóa bởi tín đồ để thành huyền thọai. 3) Cũng vào thời đại ấy, sử
liệu chỉ được chú trọng vào các nhà vua, và đã được lưu truyền nhờ vào
những dấu tích xây dựng lâu dài của họ. 4) Các dữ kiện nếu có về Nagasena
có thể đã bị tiêu hủy bởi những biến động chính trị và tôn giáo đối kháng
trong vùng; vv…
Theo bộ kinh
Milinda-panha
thì ngài sanh tại làng Casangala (Kajangala), dưới chân Hy Mã Lạp sơn, ở
vùng Tây bắc Ấn Ðộ, trong một gia đình Bà La Môn mà thân phụ tên là
Soñuttara, các sư phụ gồm đại sư Rohana và Assagutta của tăng viện
Vattaniya, Dharmarakshita của tăng viện Asoka Ārāma ở kinh đô Pātaliputta.
Chính đại sư Dharmarakshita đã từng được đại đế Asoka phái đi truyền đạo ở
Aparanta phía tây nước Ấn. [Ở đây có một điểm nghi vấn về đại sư
Dharmarakshita thời Asoka và đại sư Dharmarakshita thầy của Nagasena, có
thể là hai vị khác nhau cùng pháp danh bởi vì từ thời Asoka cho đến
Menander cách nhau hơn 100 năm; hoặc giả người chép sử thời bấy giờ hay
lẫn lộn?] Một vị thầy khác là đại sư Āyupāla của tăng viện Sankheyya gần
Sāgala. Khi vua Menander đến vấn kinh thì ngài đang trụ trì tăng viện
Sankheyya có đến 80 ngàn tỳ kheo lưu trú.
George Woodcock sau khi tìm
hiểu hệ thống truyền thừa của PG trong vùng đã cho rằng Nagasena có thể là
vị sư gốc Hy ở Bactria. (Woodcock 95).
Cuộc xâm lấn của dân Sakas
(Scythian) Và Yuezhi (Kushan):
Ở Trung quốc, vào khỏang giữa
thế kỷ thứ 3 TTL, Tần Thỉ Hòang thống nhất đất nước vào năm 221 TTL, và đã
đuổi được rợ Hung Nô ra xa bờ cõi.
Rợ Hung Nô (Xiongnu: Huns),
vì thế di dân sang phía tây đánh đuổi những bộ tộc Yuezhi (Nguyệt Chi hay
Nhục Chi) sinh sống ở lưu vực Tarim (Xinjiang và Kansu ngày nay) đến vùng
sông Ili vào khỏang 175 TTL. Đến lược họ lại đẩy các bộ lạc Sakas (mà
tiếng Hy-lạp gọi là Scythians), có nguồn gốc Mông cổ, di dân về phía nam
và tây vào các xứ Parthia khỏang 138-124 TTL, rồi năm 130 TTL vào Bactria.
Các bộ lạc Yuezhi tiếp tục xâm lấn vào Bactria, và đuổi dân Scythians vào
Afghanistan và bắc Pakistan trong thung lũng sông Indus.
Các giống dân mới chịu đồng
hóa với văn hóa Hy. Ban đầu dân Scythians sống hòa bình với các triiều đại
Ấn-Hy, nhưng đến khỏang cuối của TK 1 TTL thì họ xâm chiếm tòan vùng dưới
triều vua Azes II và chấm dứt các tiểu vương quốc Ấn-Hy, lập nên vương
quốc Indo-Scythian từ 90 TTL đến 12 TTL. Sau khi vua Indo-Scythian cuối là
Aze II mất thì vương quốc Indo-Scythian bị giống Kushans, vốn là một bộ
phận của rợ Yuezhi, chiếm lập nên Đế quốc Kushan (nên sử Tàu hay gọi lẫn
lộn là xứ Khuất Chi hay Nhục Chi) kéo dài vài thế kỷ, chỉ bị tạm dứt
khỏang một thế kỷ khi bị dân Parthians xâm lăng từ 20 TL đến 75 TL, rồi
phục hồi trở lại.
Đế quốc Kushan tồn tại từ TK
thứ I đến TK 3 TL, trãi dài từ Tajikistan đến biển Caspian và Afghanistan,
cho mãi đến thung lũng sông Ganges. Trong nhiều thế kỷ, đế quốc này là
trung tâm giao dịch giữa các xứ đông và tây phương. Các triều đại huy
hòang nhất là từ 100 đến 250 TL có Kanishka I (127-151 TL), Huvishka
(156-184 TL), Vasudeva I (188-222 TL), Kanishka II (222-241 TL) và
Vashishka (241- 256 TL.)
Nhưng đến TK thứ 3 TL thì đế
quốc Kushan bắt đầu tan rã. Sau khi vua Vasudeva I chết thì đế quốc Kushan
bị phân làm 2 xứ đông và tây. Đến khoảng năm 290 TL Các triều đại Kushan
bị Shapur I cầm đầu dân Sassanides lật đổ, rồi lên làm vua. Shapur I cũng
đã đánh bại quân La-mã và bành trướng rất mạnh trong vùng. Các triều đại
Sassanides cai trị vùng này từ 290 đến 651 TL.
Dưới thời Sassanides Bái Hỏa
giáo lại trở thành quốc giáo, nhưng cũng rất nương tay với những tôn giáo
khác, nên PG vẫn có cơ hội phát triển mạnh. Chính vào thời kỳ này hai bức
tượng Phật đồ sộ lớn nhất tòan cầu đứng cao 177 bộ đã dược tạc vào núi đá
ở Bamiyan, Afghanistan, mà gần đây đã bị bọn cuồng tín Hồi giáo Taliban
phá hũy.
Bái Hỏa giáo (mà tây phương
hay gọi theo Hy ngữ là Zoroastrianism) là tôn giáo độc thần thờ Ahura
Mazda, và trong nghi lễ xem lửa như là nguồn sáng tạo tinh khiết, là ánh
sáng thánh thiện đối chọi với dục vọng đen tối độc ác, do nhà tiên tri
Zoroaster tạo dựng (thực ra tên gốc Iran là Zarathushtra Spitama), và một
thời nó đã là quốc giáo của đế quốc Persia. Nhiều học giả cho là Zoroaster
sống trong khỏang 628 – 551 TTL, và được thiên khải rồi nổi danh ở Bactria
ở tuổi 30. Ở đó ông đã sáng tạo nên những thánh kệ trong quyển Gathas
thuộc bộ kinh Zand Avesta.
Một điều thú vị khác là vài
chục năm trước đây Kim Dung, một nhà viết tiểu thuyết võ hiệp trứ danh của
Đài Loan trong cuốn “Ỷ thiên Đồ long ký”đã đề cập đến sáu thanh Thánh hỏa
lệnh của Bái hỏa giáo Ba Tư, và Trương Vô Kỵ trở thành giáo chủ Minh Giáo
tức Bái hỏa giáo Trung Quốc. Thực ra Minh giáo (Manichaeism), có giáo
thuyết gần giống Bái Hỏa giáo xuất hiện nhiều thế kỷ sau, do Mani (khỏang
216-76 TTL) ở Babylonia sáng lập, nhưng lại bị giết bởi giới tăng lữ đạo
Zoroastrianism vì ra mặt đối kháng. Lúc còn thanh niên, ông đã từng đến
Taxila học đạo và chịu ảnh hưởng PG. Trong vài trăm năm Minh giáo đã đối
đầu với Ki-tô giáo trong vùng Trung đông.
Đến TK thứ 5 thì đế quốc
Sassanides bị tan rả bởi sự xâm lăng khác của rợ Hung nô mới và sau đó là
sự lớn mạnh của đế quốc Gupta ở Ấn theo Ấn giáo, rồi đến lượt các thế lực
Hồi giáo. Theo đó PG cũng bị tàn lụi dần.
Hòang Đế Kanishka I:
Là một ông vua qui y theo PG,
và nhiệt tâm chẳng kém các vị hòang đế khác như Asoka, Menander I, và
Harshavardhana.
Hòang đế Kanishka I (127-151
TL; có nơi lại ghi: 100-164 TL) kế vị vua Vima Kadphises, đóng đô ở
Purushapura (Peshawar) là vị vua vĩ đại của vương quốc Kushan. Lãnh thổ
của đế quốc Kushan rất rộng dưới thời Kanishka I, bao gồm và kiểm sóat con
đường tơ lụa, là vùng giao lưu của các nền văn minh lớn của thế giới bấy
giờ, tây có La-mã (trong thời của các hòang đế Trajan và Hadrian: 98-138
TL), đến đông có Trung-hoa. Dưới triều đại của ông, nghệ thuật PG-Hy đạt
đến tột đỉnh tạo nên nền văn minh Gandhara.
Nhiều đồng
tiền dưới triều Kanishka I, khỏang năm 120 TL, có khắc hình đức Phật theo
mỹ thuật Hy-lạp, và mang dòng chữ Hy "Boddo" (đức Phật).
Cũng giống như Asoka, hòang
đế Kanishka I xây dựng rất nhiều đền đài, ví dụ như đại tháp Peshawar thờ
xá lợi Phật được cất bằng gổ cao 400 bộ, khu Sirsukh ở Taxila, thành ở
Kashmir vv.. nay vẫn còn dấu tích. Vua Kanishka đã tổ chức kết tập kinh
điển ở Jālandhar Kashmīrthat, Kashmir, mà trong văn học PG hay gọi là xứ Ô
Trượng Na (Udỳanna). Lần kết tập này đã đánh dấu sự hình thành của Phái
Đại thừa Mahayana, tách rời ra khỏi phái Thượng tọa bộ Nikaya. Ông cho lưu
giữ nhiều bản kinh đại thừa viết bằng thổ ngữ ở Gandhara là tiếng Prakrit,
sau này được dịch sang ngôn ngữ văn chương Sanskrit và từ đó được truyền
sang đông phương theo con đường tơ lụa. (Foltz – “Religions on the Silk
Road”),
Cũng trong thời kỳ huy hòang
này có sự xuất hiện của những đại luận gia PG như Nagarjuna (Long Thọ),
Asvaghosha (Mã Minh) và Vasumitra (Bà-tu Mật-đa: Thế Hữu). Charaka, được
xem như cha đẻ của nền y học của Ấn khởi sự là ngự y trong triều
Kanishka.
Sự giao hòa giữa PG và văn
hóa Hy-lạp (Graeco-Buddhism):
Có thể nói các vương quốc
Bactria rồi Kushan (còn được viết là Kutsha, Kucha; Khuất Chi, Nhục Chi,
Quy Tư, hoặc Dao Tần; nay là huyện Khố Xá hay Khố Đông, khu tự trị Duy Ngô
Nhỉ tỉnh Tân Cương) là mối nối kết giữa vùng Địa trung hải, lục địa Ấn và
Trung quốc – khởi đầu cho sự liên lạc giữa hai nền văn minh tây và đông
phương.
Sự giao hòa mọi mặt, nhất là
văn hóa giữa Hy và PG đang hưng thịnh trong vùng kéo dài nhiều thế kỷ đã
lưu lại một sắc thái đặc thù cho nền văn hóa mới ở vùng này, sử hay gọi là
PG Hy-lạp, kéo dài gần 8 thế kỷ (từ TK 4 TTL dến TK 5 TL), mà ảnh hưởng
vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Đơn cữ một vài thành tựu:
1. Kiến trúc Hy-lạp. Nhiều
thành phố lớn trong vùng như Taxila, Ai-Khanoum, Uddiyana, Sindh vv… mang
thêm những đặc điểm của nền văn minh Hy-lạp qua các cấu trúc như rạp hát,
đấu trường và hàng cột đá ở những dinh thự vv.
2. Kiến thức về khoa học,
thiên văn, y học và triết học của Hy-lạp hòa nhập với văn hóa bản xứ và
đạo Phật, đã tạo nên một nền văn hóa mới và phát triễn rực rỡ vài thế kỷ
từ vùng Gandhara, mãi đến sau khi các vương quốc Hy-Ấn biến mất đã lâu.
Taxila đã trở thành một trung tâm học vấn quốc tế nổi danh.
2. Kỷ thuật tiến bộ trong
việc đúc tiền bằng kim lọai. Các nhà vua của vương quốc Bactria khỏang đầu
TK 2 TTL, như Euthydemos II, Agathokles và Pantaleon đã cho đúc những đồng
tiền gồm đồng và bạc, rồi đặc biệt kẻm mạ kền (nickel) được xem như là
lần đầu của nhân lọai. Người ta cho là nickel đã được du nhập từ Trung
quốc hoặc từ những thiên thể (meteorites) rơi xuống đất. Kỷ thuật sản xuất
đồng nickel này bỗng biến mất cho mãi đến TK 19 TL mới được tái dụng. Điều
đáng nói là tỷ lệ hợp kim này, 25% nickel 75% đồng, ngày nay lại được dùng
trong đồng xu của Mỹ. Hình tượng đức Phật đã được khắc lên trên những đồng
tiền này lần đầu.
3. Nghệ thuật điêu khắc tả
chân thật tân kỳ. Các đồng tiền vàng và bạc mang chân dung của các vị vua
Hy-Ấn được điêu khắc rất sống động còn tĩ mĩ hơn xa những tác phẩm đồng
thời của những vương quốc phương tây.
4. Riêng đối với PG thì trước
thời kỳ này, vâng theo lời dạy của đức Phật trong kinh Digha Nikaya
(Trường Bộ Kinh), không muốn đồ đệ lưu luyến qua ảnh tượng thế gian vốn
sinh diệt của ngài nên hậu thế thường tượng trưng đức Phật bằng hình ảnh
của một ngai vàng bỏ trống, cây bồ đề hoặc bánh xe pháp chứ không tạo theo
hình dáng con người, bởi cho như thế là phạm thượng. Đến khi PG được thấm
nhuần ở Bactria thì tượng đức Phật lịch sử mới được tạc bằng đá hay trên
đồng tiền lần đầu theo truyền thống Hy với thế đứng và áo chòang dài phủ
hai vai để tôn thờ, chẳng hạn như tượng đức Phật đứng ở Gandhara vào TK 1,
2 TL.
Và
những hình tượng đức Phật chịu ảnh hưởng Hy vào giai đọan ấy đã diễn tả
được nét mặt thanh tịnh và tâm cảnh giác ngộ giải thóat của ngài, một đấng
giác ngộ rất gần gũi với người thường, nên có sức thu hút tín đồ mãnh liệt
hơn, và được phổ biến rộng rãi hơn.
Vài hình tượng bồ tát PG có
thể đã chịu ảnh hưởng Hy-lạp; ví dụ thần Heracles (hay Hercules) với áo da
sư tử đã được làm mẫu cho thần Thủ kim cương (Vajrapani), một vị hộ pháp;
mà về sau ở Trung quốc và Nhật đã biến thành các hộ thần đứng trấn ở các
cổng chùa.
PG Hy-lạp và sự hưng thịnh
của phái Đại thừa:
Không ít thì nhiều, chính sự
chung sống khắng khít lâu dài giữa hai nền văn hóa PG và Hy-lạp trong vùng
đã ảnh hưởng lên hệ thống triết học của nhau. PG lên trên nền triết học
của Hy; và Hy lên trên sự manh nha của học phái Đại thừa, trước cả giai
đọan ảnh hưởng của Trung Á hoặc đông bắc Á.
Theo nhiều học giả thì những
bản kinh đại thừa chủ yếu đã được sáng tập khỏang năm 100 TTL, khi có sự
khác biệt trong sự luận giải lời dạy của đức Phật giữa phái thủ cựu
(Thượng tọa bộ) và phái canh tân (Đại thừa), và nhất là sự tranh luận về
ứng thân (humanity) hay pháp thân (superhumanity) của đức Phật và về A-tì
đạt-ma tạng (metaphysical essentialism). [McEvilly, "The shape of ancient
thought"]. Phái đại thừa bao dung và chấp nhận những ý niệm tiến bộ hơn
ngòai những kinh bộ truyền thống Nikaya, vượt xa hơn ý niệm về giác ngộ
giải thóat cá nhân của Thượng tọa bộ, để thờ phượng đức Phật gần như
nhân-thần linh thiêng (man-god status) tương tự như quan niệm thần linh
hóa nhà vua (god-king) của Hy-lạp, và sự xuất hiện một lọat các chư thánh
bồ tát muốn cứu độ chúng sinh (pantheon of deities - bodhisattva).
Theo Katsumi Tanabe, giáo sư
tại Chuo University, Nhật, trong cuốn "Alexander the Great.East-West
cultural contact from Greece to Japan" thì ảnh hưởng Hy-lạp trong PG
còn được truyền sang Nhật bản và lưu nhiều dấu tích, ví dụ thần gió Fujin
là gợi ý từ thần Boreas, hay thần mẹ Hariti hoặc Kishibojin từ thần
Tyche.
Đến triều Kanishka I thì phái
đại thừa càng được khởi sắc thêm. Tiếng Pali được dùng trong văn học thay
thế tiếng Sankrit và đặc điểm nổi bậc nhất là sự trưởng thành tột đỉnh của
nghệ thuật Gandhara. Nghệ nhân vùng này đã khéo léo trộn lẫn hai truyền
thống Ấn và Hy-lạp trong các tác phẩm một cách hài hòa. Rõ rệt nhất là các
tượng Phật và chư bồ tát mà hiện nay vẫn còn tồn tại. Foltz trong cuốn
“Religions on the Silk Road” cho rằng sự giao lưu đa văn hóa trong vùng
trên “con đường tơ lụa” đã đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của phái
đại thừa và Tịnh độ tông.
Tượng đức Phật Thích Ca lúc khổ hạnh; tìm thấy ở
Taxila và hiện lưu ở Bảo tàng viện Lahore.
Nhiều tượng Phật tạc theo
nghệ thuật Gandhara còn mang vẻ thần mặt trời Apollo. Bentley trong cuốn "Old
World Encounters" cho rằng có thể triết lý khắc kỷ (stoicism) của
Hy-lạp đã có chút ảnh hưởng đến sự nhìn nhận khả năng bình đẳng giác ngộ
của mỗi cá nhân (ai cũng có Phật tính).
Đáng tiếc là sự tương sinh
này đã chấm dứt vào khoảng TK 5 TL, khi vùng bắc Ấn bị rợ Hung xâm lấn, và
kế tiếp là sự phục hồi của Ấn giáo và sau cùng là sự bành trướng của Hồi
giáo làm cho ảnh hưởng Hy vào PG đã phai tàn nhường chỗ cho ảnh hưởng của
Trung Hoa về sau.
Ảnh hưởng đến các tôn giáo
khác ở phương tây:
Xa hơn nữa, sự giao thoa PG -
Hy-lạp cũng đã gây ảnh hưởng đến sự hình thành của nhiều tôn giáo khác
trong vùng Địa trung hải, đặc biệt là Ki-tô giáo.
Bentley, trong sách dẫn
thượng đã khẳng định rằng khái niệm luân lý của PG vào thời đại của
Menander, dựa vào lý tưởng thuận trị theo Chánh Pháp của Asoka được truyền
qua phương tây đã ảnh hưởng đến giáo lý của Ki-tô xuất hiện khỏang 2 thế
kỷ sau, như ý niệm về hiếu sinh, bình đẳng, thương xót kẻ yếu đuối, tránh
bạo lực, biết dung hòa và tha thứ vv…
Những thành phố Hy-lạp quan
trọng ở vùng Trung đông như Antioch và đặc biệt là Alexandria, về sau đã
trở thành những trung tâm phát triển Ki-tô giáo và đóng vai trò không nhỏ
trong sự kết tập giáo lý của Ki-tô giáo.
Ảnh hưởng của PG còn được
thấy phảng phất trong vài phần khác của Thánh Kinh Ki-tô, ví dụ sự thiên
ứng về sự ra đời của Phật và Jesus; sự báo trước của các nhà tiên tri
Asita và Simeon về đứa bé sơ sinh sẽ là đấng cứu thế; Phật bước trên hoa
sen, Jesus đi trên nước; việc chữa lành cho người bệnh; việc nhịn đói
nhiều tuần trước khi thành đạo; sự cám dỗ của Mara và Satan; ý niệm về tam
bảo và ba ngôi; đời sống độc thân trong tu viện, vv…(Sedlar 281).
Trong cuốn “Intertextuality,
Buddhism, and the Infancy Gospels,” Zacharias P. Thundy khẳng định không
phải là do sự trùng hợp mà cho rằng văn hóa và văn học PG và Ấn đã cung
cấp nhiều yếu tố trong văn chương Thánh Kinh Ki-tô (Thundy 18). Thời kỳ
ấy, tín đồ PG đã từng sinh sống ở Alexandria. Origen qua cuốn “Commentary
on the Book of Ezekiel,” còn cho là PG cũng đã có mặt ở Anh quốc. Giáo sư
Hajime Nakanura còn bảo là ông đã tìm thấy dấu tích của các tăng viện PG ở
vùng bắc Âu. (Ikeda 74).
Trong Cựu ước kinh, phần
Thánh vịnh, bộ “Các sách giáo huấn”, đặc biệt là quyển thứ 4
“Ecclesiastes” (Truyền Đạo, có người dịch là Giảng Viên), vốn được biên
soạn ở thế kỷ 3 TTL, nhưng lại ngụ ý là do vua Salomon của Do-Thái. Tác
giả vô danh suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống và cho rằng tất cả đều là phù
vân, sau khi đã quan sát về vòng sinh tử, luân hồi của đời sống. Ngay
trong câu mở đầu của cuốn sách Qohelet (Thầy giảng) phán: “Hư không,
tất cả đều là hư không” (emptiness, everything is emptiness). Ý này
còn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cuốn kinh. Ông vốn có đủ quyền
lực và khả năng để thử nghiệm đời sống một cách tận cùng về trí thức, rồi
các thú vui vật chất, tình tiền, nhưng rồi cũng thất vọng và đau khổ vì
cái giới hạn của cuộc sống. Rốt lại ông cho rằng chỉ có cuộc sống tâm linh
thánh thiện mới là nguồn an lạc lâu dài. Năm 1894, nhà thần học E. J.
Dillon vốn thấy nó rõ ràng là đã chịu ảnh hưởng của PG, nên muốn lọai cuốn
này ra khỏi Thánh Kinh Ki-tô (Dillon 153-76).
Cũng trong giai đọan này
triết gia Pyrrhon đã tháp tùng đại đế Alexander vào vùng tây bắc Ấn và khi
trở về Hy-lạp đã lập nên trường phái Cynic, sau khi chịu ảnh hưởng của Kỳ
na giáo và PG. Hiển nhiên sự bành trướng của trường phái này trong thế
giới Hy-lạp đã có ít nhiều ảnh hưỡng đến cuốn Ecclesiastes.
Bộ kinh Milinda Vấn Đạo:
Người ta tin rằng bộ kinh
Milindapanha
đã được khẩu tập không lâu sau khi vua Menander băng hà. Thời gian ấy các
người kế vị là Hòang hậu Agathocleia rồi vua Strato I Soter ở ngôi khỏang
40 năm nữa trước khi xứ Bactria bị chia ra nhiều tiểu vương quốc. Nội dung
kể lại những câu hỏi và đáp giữa vua Milinda và tỳ kheo Nàgasena. Sau đó
bộ kinh này đã được kết tập ở vùng bắc Ấn khỏang giữa TK 1.
V. Trenckner cho rằng nguyên
bản được viết bằng chữ Sanskrit, vì khi ông dịch bản Pali vào những năm
1860 nhận xét thấy bộ kinh được bắt đầu bằng dòng “Tam yathà nusuyatà”
(được truyền lại như sau), chứ không theo lối kinh gốc Pali thông thường
được khởi đầu bằng “Evam me sutam” (tôi nghe như vầy).
Điều ngạc nhiên nữa là câu mở
đầu này cũng đã được dịch ra trong bản chữ Hán, như thế tõ rằng hai bản
dịch đều bắt nguồn từ nguyên bản chữ Sanskrit. Các dịch giả Sylvain Levy
và Specht cũng khẳng định là các bản dịch ra Hán văn của bộ Milinda-panha
có nguồn gốc không từ bản Pali, mà có thể từ bản kinh cổ hơn.
Nhiều học giả như W. W. Tarn,
George Woodcock, và Rabindra Nath Basu đã gợi ý rằng có một bản (có thể là
gốc) viết bằng Hy ngữ của Milinda-panha với tựa đề là “the Letter of
Pseudo–Aristeas”đã xuất hiện ở Alexandria trong vòng 50 năm sau khi vua
Menander từ trần. Điều này đã hổ trợ cho thuyết bảo rằng bộ kinh đã được
khẩu tập dưới thời Menander. (Basu 3; Woodcock 113).
Đến nay người ta vẫn không rõ
ai là tác giả bộ kinh này, nhưng xem ra phải là người đã từng sống ở vùng
tây bắc Ấn xa xôi hay vùng Punjab, bởi vì ngài đã không hề nhắc nhở đến
những thành phố nổi danh thời bấy giờ ở nội địa Ấn phía nam sông Hằng. Có
học giả, như tỳ kheo Pesala sau khi nghiên cứu bộ kinh Milinda-panha, rất
ngạc nhiên với sự hiểu biết thâm thúy về PG của vua Menander đã cho rằng
có thể tác giả ẩn danh vốn là một đại sư, khi thuật lại cuộc gặp mặt của
hai nhân vật lịch sử trong kinh đã điểm xuyết thêm vào sự liễu ngộ Phật
pháp của mình để kéo dài câu chuyện và làm đẹp ý nhà vua, đồng thời làm
sáng tõ giáo pháp của đạo Phật và bác bỏ những ngộ nhận từ các giáo phái
khác chống PG.
Bộ kinh thường được truyền
tụng ở tây phương đến nay là bản Pali; và đây cũng là bộ kinh khởi thủy
thuộc hệ nam tông đã không xuất phát từ Tích-Lan. Theo đó thì cuộc đàm đạo
giữa vua Milinda và thánh tăng Nagasena xảy ra vào khỏang từ 400 đến 500
năm sau khi đức Phật nhập diệt. Về sau đã đươc đại đức Pitakaculàbhaya, ở
trung Ấn độ biên tập lại bằng tiếng Pàli từ những khẩu truyền.
Theo bản Hán dịch hiện lưu
hành thì cho rằng soạn giả là Bồ tát Long Thọ (Nagarjuna), vị đại luận sư
của phái Ðại thừa, xuất hiện khỏang đầu của thiên niên kỷ TL. Có 3 bản
dịch ra Hán văn lần lượt xuất hiện vào các thế kỷ III, IV, và V. Bản hiện
lưu hành là bản thứ nhì, dịch trong khoảng từ năm 317 đến năm 420, nhan đề
là "Na Tiên Tỳ Kheo Kinh", có lẽ từ bản Pràkrit.
Vào thế kỷ thứ V, đại luận sư
Phật Âm (Buddhaghosa) cũng thường trích dẫn kinh nầy để dùng làm luận cứ
chứng minh cho các tác phẩm của ngài. Ngài Thế Thân (Vasubandhu) cũng nhắc
đến kinh Milindaphanhà trong khi soạn bộ luận trứ danh của ngài là bộ A tỳ
đạt ma Câu xá luận (Abhidharmakosa).
Trong bộ Mahavamsa của Tích
Lan, vốn do Mahànàma viết vào đầu thế kỷ thứ 6 TL, nhắc đến tiểu sử của
Moggaliputta Tissa, đã sống khỏang trăm năm trước Nagasena, nhưng lại
giống với câu chuyện về Nagasena được đề cập đến hai lần trong bộ kinh
[Miln. pp 3-71]. Như thế rõ ràng là Mahànàma đã mượn ý từ bộ kinh
Milinda-panha, vì lúc bấy giờ bộ Milinda-panha đã là thánh điển được
Buddhaghosa (Phật Âm) sao lục. Trong cuốn Milinda Tika, luận về bộ Milinda
Panha, cho biết là đọan mở đầu và đọan kết của bộ kinh là do Buddhaghosa
viết.
Trong phần giới thiệu của bộ
kinh, có đọan nói rằng vua Menander đã từng đàm đạo với Purana Kassapa,
Makkhali Gosala và những vị đạo sư khổ hạnh khác thì được xem như là hư
cấu, bởi chư vị này sống đồng thời với đức Phật Thích Ca. Câu chuyện có lẽ
mượn từ cuốn Sàmana Phala Sutta của bộ Digha Nikàya.
Ngày nay thì bộ kinh, cũng
như tam tạng kinh điển PG, đều đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác. Ở
châu Âu, bộ kinh Milinda-panha đã được nhiều học giả dịch ra và nghiên cứu
lần đầu vào TK 19; đơn cử: 1) V. Trenckner, Milinda-panho (London, 1880).
2) Rhys Davids, Questions of King Milinda (2 vols. Oxford, 1890-1894). 3)
R. Garbe, Beitrdge zur indischen Kulturgeschichte (Berlin, 1903, ch. 3,
Der Milinda-panha).4) Milinda Prashnaya, in Sinhalese, (Colombo, 1877). 5)
R. Morns, in the Academy (Jan. II, 1881). 6) Sylvain Levy, Proceedings of
the 9th International Congress of Orientalists (London, 1892), i. 518-529,
and Journal of the Royal Asiatic Society (1891), p. 476. (T. W. R. D.)
Phần đối thoại phản ảnh giáo
pháp Kinh bộ Nikaya như bàn về vô ngã, luân hồi, tái sanh của danh sắc,
trạng thái của La Hán, bản thể của Niết Bàn, sự xuất thế của Phật, tính
cách vô thượng của Phật v.v. Trong cuộc đối thoại nầy, có một điều làm cho
vua Menander hài lòng nhất là câu giải đáp của ngài Nàgasena về sự lợi ích
của đời sống tu hành mà từ trước nhà vua chưa được nghe, đó là “người xuất
gia chắc chắn đạt được thánh thiện, và đạt được mau chóng hơn kẻ tại
gia.”
Đặc điểm của Bộ Kinh:
Đặc điểm của nó là được xem
như một cuộc giao thoa Âu-Á đầu tiên, một cụộc học đạo giữa một người tây
phương (vua Menander) với văn hóa Hy lạp muốn học hỏi giáo pháp uyên áo
của đạo Phật ở đông phương qua sự giải đáp của một vị tăng (Tỳ kheo
Nàgasena) ở thung lũng sông Indus. Qua đó Phật pháp đã được trình bày một
cách đầy thuyết phục và dễ nhớ.
Vốn dòng dõi Hy-lạp, vua
Menander đã hỏi khá nhiều câu hỏi mà người tây phương thường thắc mắc về
những đề tài rất cấp thiết đại lọai như “Nếu không có linh hồn thì cái gì
sẽ tái sanh?” hoặc “Nếu không có cái ta thì ai đang chuyện trò với ngài?”,
cho nên bộ kinh Milindapanha rất gần gũi với người tây phương muốn tìm
hiểu về PG. Thực ra lối đàm thọai này đã từng được đức Phật sử dụng trong
Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya); Bài giảng cho người Kàlàmà. (Phẩm
5-7; Đọan 65).
Mọi câu hỏi được đặt ra từ
một kẻ ngạo mạn đầy uy quyền với óc đa nghi, sắc bén đều đã được giải đáp
hòa nhã, thỏa đáng kèm với nhiều tỉ dụ cụ thể và giản dị bởi một vị thánh
tăng. Cũng vì thế mà vua Menander liễu ngộ Phật pháp mà qui y rồi ủng hộ
PG mạnh mẽ dưới triều ông.
Văn phong trong bộ
Milinda-panha hao hao lối đối thọai của Socrates (470-399 TTL) / Plato
(428 – 347 TTL; học trò của Socrates và thầy của Aristotle). T.W. Rhys
Davids, một nhà ngữ học Pali đã cho đó là một kiệt tác văn chương cổ của
PG và cũng của nền văn học Ấn.
Bộ kinh cũng cho thấy ẩn chứa
những điểm tế nhị ảo diệu manh nha của tư tưởng đại thừa. Có lẽ chính vì
đặc điểm này mà ngài Long Thọ (xuất hiện hơn 2 thế kỷ sau) cũng trước soạn
lại bộ kinh Na Tiên để mở màn cho giáo lý trung quán xuất hiện. Xét ở khía
cạnh này, có thể xem tư tưởng Nàgasena là tư tưởng chuyển tiếp giữa Tiểu
thừa và Ðại thừa. Vì thế địa vị của bộ kinh trong tam tạng kinh điển không
kém phần quan trọng.
Vài điểm khác biệt giữa hai
bản dịch Pali và Hán văn:
Đại khái chúng ta có thể nêu
vài điểm khác biệt như sau:
1. Bản Hán văn lấy tên tỳ
kheo làm tựa đề là Nàgasena-bhikshusutra (Na-tiên tỳ kheo kinh) chia làm 3
phần. Bản Pali lại tên vua làm đề là Milinda-Panha (Milinda Vấn Kinh),
phân làm 7 quyển.
2. Nội dung của một phần
quyển I, trọn quyển II, và quyển III của hai bản giống hệt nhau. Nhiều học
giả cho rằng bốn quyển còn lại, từ quyển IV đến quyển VII, là do phái
Thượng tọa bộ Nam tông thêm dần vào từ thế kỷ thứ V, cho hợp với lập
trường giáo nghĩa của phái mình.
3. Bản Pali có dư trội 12 câu
hỏi. Đây là do sự sắp xếp khác nhau của những lần biên tập về sau, nên có
sự khác biệt. Bản Pali: có 6 quyển, 22 chương gồm 262 câu hỏi, mà nay chỉ
còn 237 câu hỏi. Bản Hán văn có 250 câu hỏi.
4. Giữa hai bản, chuyện tiền
thân của Nàgasena và Milinda không giống nhau.
5. Trong bản Hán văn không
thấy đề cập đến Abhidhamma (A-tì-đạt-ma: Thắng Pháp), vốn thường được nhắc
đến trong bản Pali.
6. Trong phần sắp xếp
Bodhipakkhiya Dhammas (Bồ-đề Phần), người dịch ra Hán văn xem ra không
quen với bản Pali.
7. Bản Pali nói rằng súc vật
có suy tính nhưng thiếu khôn ngoan; bản Hán văn thì bảo súc sinh có khôn
ngoan nhưng cái tâm thì khác nhau.
Lời Kết:
Nhân tìm hiểu lịch sử của
giai đọan quanh thời kỳ xuất hiện bộ kinh Milindapañha, chúng ta thấy đã
có nhiều chứng cớ để kết luận rằng: Cuộc đàm đạo giữa vua Menander (hay
Milinda, Di-Lan-Đà) và Tỳ kheo Nàgasena (hay Na-Tiên) là một sự kiện lịch
sử, đã từng xảy ra ở tăng viện Sankheyya, thuộc kinh đô Sagala của nước
Bactria vào khỏang giữa thế kỷ thứ 2 TTL.
Sử liệu cũng cho thấy vùng
tây bắc Ấn sau khi bị người Hy-lạp xâm chiếm đã có một thời thấm nhuần PG
được truyền từ lưu vực sông Hằng. Có thể bảo đấy là thành quả sớm nhất của
các cuộc truyền pháp của PG sang phương tây, còn trước cả phương đông. Sự
giao hòa giữa hai nền văn hóa và triết học của PG và Hy-lạp trong vùng đã
tạo nên một sắc thái đặc thù của đất thánh Gandhara, nơi phát xuất và đóng
góp ý niệm đại thừa vào PG về sau.
Nhưng nhìn vào sự thăng trầm
sinh diệt nhanh chóng của các nền văn hóa trong vùng cũng làm cho người
đọc chạnh lòng. Với tham vọng đế quốc thống trị tòan cầu, nhất là từ tây
phương kể từ thời Alexander, thì sức mạnh của bạo lực là chủ yếu. Mạnh
được yếu thua. Họ chẳng cần đếm xỉa gì đến đạo lý. Đạo lý chỉ được tạo
dựng sau khi đã hòan tất sự khống chế để biện giải cho việc giết người
cướp của của họ; vì thế mà vai trò của tôn giáo và giới tăng lữ vẫn luôn
có giá trị lợi dụng cho kẻ xâm lược.
Suốt dòng lịch sử nhân lọai
hơn hai ngàn năm, tham vọng ấy của tây phương vẫn liên tục được tiến hành
với chiêu thức có thay đổi tùy theo thời đại kỷ thuật mới. Đến nay thì họ
không cần chiếm đất mà chỉ muốn áp đặt quyền lực lên các nước nhược tiểu.
Dĩ nhiên song hành với tham vọng này, họ vẫn là xữ dụng “vũ khí mềm” là
bành trướng tôn giáo Ki-tô lợi hại, “mở mang nước Chúa” để đạo và đời cùng
có lợi như đã từng làm trong quá khứ qua các chế độ xâm chiếm thực dân.
Đã có biết bao nhiêu tiểu
quốc, bao sắc dân, bao nền văn hóa và tôn giáo của thế giới đã bị hũy diệt
bởi những tham vọng này. Từ đó ta thấy thêm rằng chỉ những tôn giáo nào
được kẻ mạnh xử dụng là hy vọng tồn tại, và vì thế tôn giáo nào muốn độc
tôn trên thế gian đều phải dựa vào lưởi gươm của thế lực, chứ chẳng phải
từ thần linh hay giáo lý mà giới tăng lữ thường kêu gọi tín đồ tuân phục.
Thần quyền luôn liên kết với thế quyền để cùng hưỡng lợi. Tín đồ càng
nhiều, cộng đồng càng lớn thì vai trò của giới tăng lữ mới càng quan trọng
để bảo vệ quyền lợi kinh tế và vật chất cho nhau. Giáo chủ xưa thì sống
trong thanh bần áp bức để làm sáng thiện tâm, nhưng giáo hội nhân danh họ
được dựng lên thì sống trên xa hoa, dư dật của vật chất và quyền lực. Hóa
ra những lời thuyết giảng chỉ là những xão ngôn lừa mị. Nhưng tín đồ thì
chẳng mấy bận tâm với những điều trái khuấy ấy khi quyền lợi kinh tế của
họ được bảo đảm bởi giáo hội.
Riêng PG, với bản chất từ bi,
nhẩn nhục, hiếu sinh và thanh tịnh, giới tăng già thì nghiên về thóat tục
(nhưng chưa hẳn hòan tòan đã thế), xem ra thiếu khả năng tổ chức và lãnh
đạo khối tín đồ trở thành một lực lượng kinh tế và chính trị quan trọng
trong từng quốc gia (ngọai trừ một vài nước theo phái Tiểu thừa), chứ đừng
nói đến một trung tâm hoằng pháp chỉ đạo quốc tế. Vì thế PG chỉ thích nghi
với những xã hội nông nghiệp ít biến động, chứ không có đủ sức mạnh để
kháng cự khi bị ngọai xâm. Khi bị tấn công đàn áp, thì tín đồ PG lại hay
chọn thái độ dĩ hòa vi quí, co rút, tự diệt hơn là chống lại một cách đại
hùng đại lực.
Do đó mà ta thấy PG sau nhiều
thế kỷ sáng lạng huy hòang ở Ấn và vùng tây bắc Ấn đã bị hòan tòan tiêu
diệt một cách dễ dàng bởi những tôn giáo mới vốn chỉ dựa vào bạo lực và o
ép kinh tế để truyền đạo. Hiện nay nhiều Phật tử cảm thấy phấn khởi khi
chùa chiền đua nhau mọc lên, nhất là ở hải ngọai, nhưng xét kỷ lại thì mới
thấy rằng gốc rễ PG đã lung lay ngay tại những xứ thường tự hào là đất
Phật như Tây tạng, Trung Hoa và Việt-nam. Những bài học lịch sử này có gây
được sự xét lại đường lối sinh họat và truyền giáo của giới tăng ni hiện
nay hay không? Bởi vì cứ tiếp tục thái độ thụ động, xa rời quần chúng tín
đồ, thiếu tổ chức, thiếu uyển chuyển thích nghi với thời đại và thiếu đòan
kết của giới lãnh đạo thì vai trò của PG trong xã hội, vốn là động lực của
dân tộc, e một ngày kia sẽ bị mai một. Hối thì đã muộn.
Trần Trúc-Lâm
Seattle, Mùa thu
2004