tịch năm 543 TCN, thọ 80
tuổi. Phật lịch (PL) tính từ lúc ngài mất, tức năm 543 TCN kể là năm thứ
nhất, đến nay dương lịch 2010 thì PL là năm 2554.
PG du nhập vào Việt Nam rất sớm bằng đường biển, trước cả Trung Quốc.
Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến dân tộc Việt Nam, gắn bó rất mật
thiết với triều đình và với đời sống của nhân dân, từng có thời được xem
là quốc giáo dưới các triều đại Lý, Trần. Theo sách Lĩnh Nam chích
quái, vào thời đại Hùng Vương, hai vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung
công chúa đã được một nhà sư Ấn Độ tên là Phật Quang thuyết giảng về Đạo
Phật tại núi Quỳnh Viên. Mặc dù đây là truyền thuyết nhưng không hẳn là
không có thật. Theo khảo cứu của các học giả, núi Quỳnh Viên ở phía nam
Cửa Sót nơi con sông cùng tên chảy ra biển (nay thuộc Hà Tĩnh). Lịch sử
PG cho biết rằng vào thời vua A Dục (Asoka 273 – 232 TCN), ông là vua
của nước Ma Kiệt Đà (Magadha- bắc Ấn Độ), đã cử 9 phái đoàn để truyền bá
đạo Phật ra các nước chung quanh, trong số đó có phái đoàn do hai cao
tăng Uttara và Sona đi bằng đường biển đến Suvannabhumi (xứ vàng, nay là
Myanmar và Thái Lan) truyền đạo. Sử của Thái Lan và Myanma có ghi nhận
công cuộc hoằng pháp của phái đoàn này. Một đoàn khác do Mahoda, con của
vua A Dục cầm đầu, đã đến nước Văn Lang của vua Hùng vào năm 240 trước
CN. [Theo sử cũ, triều đại Hùng Vương kết thúc năm 258 trước CN, nhưng
niên đại cổ sử có sai sót, nước Âu Lạc chỉ có thể được thành lập sau
cuộc chiến thắng lợi với Nhà Tần. Năm 218 TCN Tần Thủy Hoàng sai Đồ
Thư屠睢đem 50 vạn quân đánh phương nam (bao gồm Chiết Giang, Quý Châu,
Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây) Dịch Hu Tống译吁宋là thủ lĩnh của người
Tây Âu (nay thuộc Quảng Tây) lãnh đạo cuộc kháng chiến tại khu vực của
mình, nhưng Dịch Hu Tống tử trận. Lúc đó Thục Phán蜀泮là một vương tử của
nước Thục (thuộc Tứ Xuyên, đã bị Tần diệt) lưu vong tại Tây Âu, thay
Dịch Hu Tống tiếp tục việc chống Tần, giết được Đồ Thư, đánh bại quân
Tần. Sau thắng lợi, Thục Phán sẵn cơ hội, đánh chiếm nước Văn Lang, thời
đại Hùng Vương kết thúc vào năm 208 TCN. Một chi tiết khác, Sử Ký của
Tư Mã Thiên ghi Bà Lữ Hậu, vợ của Hán Cao Tổ mất năm 180 TCN, sau đó
Triệu Đà mới đánh chiếm nước Âu Lạc của Thục Phán. Một chi tiết khác
nữa, năm 1983, người ta khám phá lăng mộ của Triệu Văn Vương tại Quảng
Châu, người này chính là Triệu Hồ, sinh năm 175 TCN, con của Trọng Thủy,
có ghi trong Sử Ký, nhưng trong lăng mộ ghi tên chính xác là Triệu Mạt
赵眜 (lên ngôi năm 137, mất năm 122TCN). Theo truyền thuyết, Trọng Thủy đã
chết theo Mỵ Châu, vậy Trọng Thủy chỉ chết vào năm 176 hoặc trong năm
175 TCN, suy ra Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc chỉ có thể là năm 176 hoặc
175TCN mà thôi chứ không thể là năm 179TCN. Các chi tiết trên đủ để kết
luận, nước Âu Lạc chỉ có một đời vua là Thục Phán, tồn tại từ 208-176
(hoặc 175 TCN] Như vậy năm 240TCN vẫn còn là triều đại Hùng Vương, Chử
Đồng Tử và Tiên Dung công chúa là những Phật tử người Việt đầu tiên của
nước Văn Lang.
Triết học Phật giáo
Phật (Buddha) có nghĩa là người giác ngộ. Giác ngộ là thấu hiểu hết
mọi lẽ biến hóa của vũ trụ, vạn vật, nhân sinh, tự giải thoát khỏi luân
hồi, đạt tới sự sinh tử tự do. Con người bình thường không thể quyết
định mình sinh ra ở xứ sở nào, làm con cái của ai, nhưng Phật thì quyết
định được, thậm chí chấm dứt sinh tử luân hồi. Như vậy đủ thấy triết học
PG là cực kỳ sâu thẳm, tri thức của Phật là không thể nghĩ bàn, có thể
hết sức xa lạ với tri thức bình thường vì quá sâu. Chúng ta thử nghiên
cứu xem PG hiểu thế nào về thế giới.
Thuyết thập nhị nhân duyên của PG nói rằng thế giới được cấu thành từ
vô minh. Vô minh là cơ sở cho thế giới xuất hiện. Vậy vô minh là gì ?
Kinh Vô Minh là một bộ kinh nằm trong Bộ Tạp A Hàm Kinh (杂阿含经)
có kể câu chuyện hỏi đáp giữa hai tôn giả Maha Câu Hi La (摩訶俱絺羅Maha
Kausthila, cậu của Xá Lợi Phất) và Xá Lợi Phất (舍利弗Sàrìputta).
Tôn Giả Ma-Ha Câu-Hi-La hỏi Tôn Giả Xá-Lợi-Phất: “Gọi là vô minh, vậy
thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?” Tôn Giả Xá-Lợi-Phất đáp: “Vô
minh là không biết , không biết tức là vô minh. Không biết những gì? Sắc
là vô thường, mà không biết như thật sắc là vô thường; sắc là pháp ảo
hóa mà không biết như thật sắc là pháp ảo hóa; sắc là pháp sanh diệt mà
không biết như thật sắc là pháp sanh diệt. Thọ, tưởng, hành, thức là
pháp vô thường mà không biết như thật thọ, tưởng, hành, thức là pháp vô
thường; thức là pháp ảo hóa mà không biết như thật thức là pháp ảo hóa;
thức là pháp sanh diệt mà không biết như thật thức là pháp sanh diệt.
Này Ma-Ha Câu-Hi-La, đối với ngũ ấm này (Sắc, Thọ,Tưởng, Hành, Thức) mà
không thấy, không biết như thật, không có vô gián đẳng [khả năng quán
chiếu liên tục không gián đoạn], ngu si, mờ tối, không sáng tỏ, thì gọi
là vô minh. Ai có những điều này gọi là kẻ vô minh.” (*)
Sắc tức là vật chất, vật chất là vô thường, là ảo hóa, đó là pháp
sanh diệt, không phải là sự thật, không phải là chân lý, không hiểu,
không nhận thức được điều đó tức là vô minh. Trong Niết Bàn Kinh (涅槃经)
Đức Phật có kể một câu chuyện để diễn tả cái vô minh của chúng sinh :
“Có một vị vua nói với đại thần, ngươi hãy dẫn một con voi đến cho bọn
mù xem. Những người mù dùng tay để sờ. Vị đại vương kêu bọn mù lại hỏi :
“Các ngươi thấy voi giống như vật gì ? Người sờ cái ngà nói : voi giống
như cái củ cải. Người sờ lỗ tai nói giống nhánh lá ki (là loại lá kép
có thể dùng làm quạt). Người sờ lưng voi nói giống như cái giường. Người
sờ bụng voi nói giống như cái lu. Người sờ đuôi voi nói giống như sợi
dây thừng… Vua tượng trưng cái biết toàn thể của Như Lai (chánh biến tri
正偏知 ) Đại thần tượng trưng Kinh Phương Đẳng Niết Bàn. Con voi tượng
trưng cho Phật tính. Những người mù tượng trưng cho tất cả chúng sinh vô
minh.” (**)
Người mù không thể biết được cái toàn thể, mà chỉ biết được phần mớ
nào đó thôi. Người mù là ai ? Là nhà chính trị, nhà triết học, nhà khoa
học, nhà doanh nghiệp, văn nghệ sĩ và cả bàn dân thiên hạ. Nói chung là
tất cả chúng sinh, với cái biết của bộ não, họ không bao giờ có thể đạt
tới cái biết toàn thể. Có lý lẽ nào để tin rằng đánh giá của Đức Phật là
không quá đáng ? Bởi vì không mấy ai trong số họ giác ngộ có thể đạt
tới sinh tử tự do cả.
PG phân biệt hai thứ vô minh. Một là vô thủy vô minh, đó chính là cấu
trúc ảo của vật chất mà cơ bản là nguyên tử. Nguyên tử là một cấu trúc
ảo vì những hạt cơ bản hạ nguyên tử (subatomic particles) như các loại
quark và electron cấu tạo nên nó chỉ là những hạt ảo, vì là hạt ảo nên
chúng chỉ có trong tâm thức, chúng không tồn tại khi bị cô lập. Điều này
thì các nhà khoa học hàng đầu của nhân loại ngày nay đã xác nhận. Niels
Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922)
nói “Isolated material particles are abstractions” (1)
(Hạt vật chất cơ bản cô lập thì chỉ là hạt ảo trừu tượng). Nhà triết
học người Đức, Immanuel Kant (1724-1804) gọi cấu trúc của vật chất là
vật tự thân hay vật tự thể (Das Ding an sich) là cái bất khả tri, không
thể biết được là cái gì, bởi cái biết đã qua ý thức là lầm lạc, không
còn đúng với nguyên bản sự thật. Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý
thuyết người Đức, giải Nobel vật lý 1932, người phát minh ra nguyên lý
bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay xung lượng
của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary
particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than
one of things or facts…atoms are not things” (2)(Nguyên
tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng
hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có
thật…Nguyên tử không phải là vật).
Cái thế giới tiềm thể (world of potentialities) mà
Heisenberg đề cập, còn phải đợi điều kiện gì để trở thành hiện thực ? Nó
phải đợi một cái vô minh thứ hai, đó là nhất niệm vô minh, nói theo
thuật ngữ PG, còn thông thường ta gọi đó là thức hay ý thức. Cấu trúc
vật chất tuy ảo nhưng nó vẫn tương đối vững bền và tiếp tục phát triển
thành những cấu trúc mới. Tính chất vững bền của cấu trúc ảo, ngày nay
chúng ta hiểu rõ qua máy vi tính. Các files tin học vẫn ổn định và có
thể gởi đi xa qua mạng internet, kể cả qua sóng vô tuyến như blue tooth,
wifi, 3G v.v… Khi cấu trúc vật chất phát triển thành sinh vật với các
giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ. PG gọi chung là lục
căn. Lục căn tiếp xúc với các đối tượng của nó : sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp. (Pháp là thuật ngữ tổng quát để chỉ chung tất cả sự vật
-tiếng Anh là things-. PG gọi các đối tượng này là lục trần) thì sinh ra
lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, ý thức). Ý thức là nhận thức
tổng hợp mà cơ sở của nó là lục căn tiếp xúc với lục trần. Từ đó phát
sinh ý niệm. PG cho rằng vật chất chỉ là ảo không có thật, nhưng khi não
tổng hợp và phát sinh một niệm thì vật chất được nhận thức một cách lầm
lạc là có thật. Cho nên PG gọi đó là nhất niệm vô minh. Rồi niệm này kế
tiếp niệm kia liên tục phát sinh thành ý thức, thành nhận thức cho rằng
có một thế giới khách quan, độc lập, bên ngoài ý thức. Nhưng khi các
nhà khoa học nghiên cứu về lượng tử thì họ mới phát hiện rằng không có
một thế giới độc lập, khách quan, ngoài ý thức, mà chỉ có thế giới chủ
quan của ý thức, biến ảo thành thật. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học
người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học
máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness
exists, that all real things are constituents of consciousness – which
is a complete reversal of materialism” (3) (Không
có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu
thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).
Một nhà khoa học khác cũng cùng nhận thức. Eugene Wigner (1902-1995 nhà
vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The
very study of the external world led to the conclusion that the content
of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when
observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a
fundamental element of reality” (4) (Càng nghiên
cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức
là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực
tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).
Vì vậy nhà Vật lý học Mỹ, Thomas Samuel Kuhn (1922-1996) trong
tác phẩm “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học” (Structure of
Scientific Revolutions) xuất bản năm 1962, ông nói “Thành trì khoa
học tưởng chừng như đã rất bền vững (vì tưởng như độc lập với con người)
nay như một tòa lâu đài ảo, chỉ tồn tại trong tâm tưởng con người”
(***)
Nhà khoa học nổi tiếng nhất hiện nay cũng phát biểu tương tự. Stephen
Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức
giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc
như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok
(sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa) Giáo sư Vật Lý của Đại
học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai ông nói
trong một tác phẩm viết chung : “The quantum world is one of
virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even
in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven
dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in
which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one
‘instanton” (5)(Thế giới lượng tử là thế giới của
các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không,
của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần
lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong
đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại
trong ‘hiện tiền’).
Tóm lại PG cho rằng thế giới là ảo, chỉ là thức mà thôi (vạn pháp duy
thức). Nhưng thế giới ảo của đời thường cao cấp hơn nhiều so với thế
giới ảo của máy vi tính. Nếu trong thế giới tin học, vật ảo chỉ hiện
thực trước 3 giác quan (thấy, nghe, ý thức) các giác quan khác (mũi,
lưỡi, thân thể) không thể tiếp xúc được. Còn trong thế giới đời thường,
vật ảo xuất hiện trước cả 6 giác quan một cách đồng bộ, khiến chúng sinh
tin tưởng hoàn toàn đó là thật, không một chút nghi ngờ rằng đó chỉ là
ảo. Bởi vậy PG nói chúng sinh nằm mơ giữa ban ngày mà không biết. So
sánh giữa thế giới ảo tin học và thế giới đời thường theo mô tả của PG,
thấy có rất nhiều điểm tương đồng. Video card tương ứng với mắt, Sound
card tương ứng với tai, RAM tương ứng với ý thức, Hard disk tương ứng
với Mạt-na thức (chuyên chấp ngã), Internet tương ứng với A-lại-da thức
(kho thông tin khổng lồ của vũ trụ). Tin học hiện nay chưa có thiết bị
tương ứng với mũi, lưỡi và thân thể nên chưa thể so sánh với thân ngũ
uẩn của con người.
Chính vì thế giới là ảo nên PG nói rằng số lượng, không gian, thời
gian đều không có thật. Mà nhận thức này một lần nữa lại được khoa học
chứng minh là đúng trong hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement).
Hiện tượng rối lượng tử đã được biết đến từ thời Einstein còn sống, gần
đây mới được khoa học tái lập thực nghiệm chính xác, xác nhận tính
tương đối của không gian, thời gian và số lượng, tức là cả ba đại lượng
trên đều không độc lập tồn tại. Hiện tượng rối lượng tử là hiện tượng
các hạt cơ bản như photon, electron, proton, neutron, và kể cả nguyên
tử, có thể xuất hiện đồng thời tại hai hoặc nhiều vị trí khác nhau,
khiến người quan sát không thể xác định chúng là một hạt cùng lúc ở
nhiều vị trí, hay là nhiều hạt giống hệt nhau ở tại các vị trí khác
nhau. Nhưng điều quan trọng là nếu có sự biến đổi của một hạt ở vị trí
này thì tất cả các vị trí khác đều biến đối y hệt, tức thời, bất kể
khoảng cách bao xa. Sinh thời Einstein có biết hiện tượng này, nhưng ông
bối rối, không thể giải thích được, ông gọi đó là “tác động ma quái từ
xa” (spooky action at a distance). Gần đây, các nhà khoa học
tại Geneve, Thụy Sĩ đã tạo ra những cặp photon hoặc các gói ánh sáng.
Chúng được chia ra rồi truyền qua cáp quang được Swisscom cung cấp, đến
hai trạm tại hai ngôi làng thuộc Thụy Sĩ cách nhau khoảng 11 dặm (18
kilômét). Các trạm khẳng định rằng từng cặp photon vẫn kết nối với nhau –
bằng cách phân tích một photon, các nhà khoa học có thể dự đoán tính
chất của photon kia. Hai photon đã tương tác với nhau một cách tức thời.
Nếu cho rằng hai photon đã chuyển tín hiệu cho nhau thì tín hiệu đó
phải di chuyển với tốc độ không tưởng, gấp hàng vạn, hàng triệu lần tốc
độ ánh sáng. Nicolas Gisin, nhà vật lý của Đại học Geneve phát biểu :
“điều thú vị ở đây là tự nhiên có thể tạo ra các sự kiện cùng xuất hiện ở
nhiều địa điểm” Chính vì không gian không có thật, nên hạt photon không
mất một chút thời gian nào để truyền tín hiệu cho nhau. Chính vì số
lượng không có thật nên hai hoặc nhiều hạt photon ở nhiều vị trí khác
nhau có thể coi là một hạt. Hiện tượng này, cùng với định lý bất toàn mà
Kurt Gödel phát biểu và chứng minh, công bố năm 1931, đã làm sụp đổ lâu đài khoa học, kể cả toán học, chứng thực rằng câu chuyện người mù sờ voi mà Đức Phật kể trong Kinh Niết Bàn có ý nghĩa hết sức sâu xa.
Triết lý trung đạo
Tuy biết rõ thế giới là ảo, bản chất của thế giới là không, song PG
dạy cho tín đồ không được cố chấp. Chấp thế giới là có thật, hay chấp
thế giới là không thật, đều không đúng. Nếu chấp là thật thì sẽ khổ vì
sinh, lão, bệnh, tử; vì tranh giành do chấp có cái ta và những sở hữu
của ta, từ đó phát sinh xung đột, chiến tranh. Thiên tai, nhân họa xảy
ra cũng vì nhận thức vô minh lầm lạc. Nhưng nếu chấp không cũng là bệnh,
vì sẽ chẳng có công dụng gì cả, sẽ ngược ngạo với thế giới đời thường.
Thế giới vô cùng phong phú là công dụng của tâm thức, miễn biết đó là ảo
và đừng quá cố chấp. Thế giới ảo của máy vi tính cũng có vô số công
dụng to lớn mà hiện nay chúng ta đang thấy. Như vậy ảo không phải là vô
dụng, ảo, biến hóa mới đích thực là công dụng. Cái vật tự thân (Das ding
an sich) của Kant vốn chỉ là cấu trúc ảo và vô dụng, bản chất của nó là
không, bất khả tri, nhưng khi phối hợp với nhất niệm vô minh của tâm
thức, thì sẽ thành vật chất, vũ trụ vạn vật, sơn hà đại địa, chúng sinh,
con người, nhà cửa lâu đài…vô số công dụng mà hàng ngày chúng ta đang
sử dụng. Như vậy không thể phủ nhận rằng cái vô thủy vô minh và nhất
niệm vô minh đã đem lại vô lượng vô biên công dụng, nhưng cũng không nên
cố chấp chúng để dẫn đến tranh giành, xung đột và chiến tranh, đau khổ
một cách mê muội, bởi vì chúng chỉ là ảo thôi mà ! Đó là ý nghĩa trung
đạo mà Bồ Tát Long Thọ (zh. 龍樹; sa. nāgārjuna ) đã diễn giải trong tác phẩm Trung Quán luận (sa. mūlamadhyamakakārikā).
Truyền Bình
Nguồn trích dẫn :
(*) Trích “Vô Minh Kinh”, quyển 32 :
摩诃拘絺罗问舍利弗
言:「所谓无明,云何是无明?谁有此无明」?舍利弗答言:「无明者谓不知,不知者是无明」?「何所不知」?「谓色无常,色无常如实不知,色磨灭法,色磨灭
法如实不知;色生灭法,色生灭法如实不知。受、想、行,识(无常),受、想、行、识无常如实不知;(受、想、行)识磨灭法,(受、想、行)识磨灭法如实不
知;(受、想、行)识生灭法,(受、想、行)识生灭法如实不如。摩诃拘絺罗!於此五受阴如实不知,不见,无无间等,愚,暗,不明,是名无明。成就此者,名
有无明」
(**) Trích “Niết Bàn Kinh” :
“有王告大臣,汝牵一象来示盲者时,众盲各以手触。大王唤众盲问之:“汝见象类何物?触其牙者言:象形如萝菔根;触其耳者言如
萁;触其脚者言如臼;触其脊者言如床;触其腹者言如瓮;触其尾者言如绳。……王喻如来正偏知,臣喻方等涅槃经,又象喻佛性,盲者喻一切众生无明也。”
(***) Trích “Khoa học và Mô thức luận của Thomas Kuhn” Tiến sĩ Đinh Thế Phong-Chungta.com
(1,2,3,4,5) Trích “Religion and the quantum world” của Giáo sư Keith Ward, phát biểu tại
Gresham College, Mỹ ngày 09/03/2005.