Tổ
Pháp Loa sinh ngày 07 tháng 5 năm Giáp Thân (1284) và mất vào ngày 03
tháng 3 năm Canh Ngọ (1330). Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 687 của Tổ.
Cuộc đời của Tổ tuy ngắn ngủi nhưng đã đóng góp to lớn cho việc phát
triển Phật giáo Trúc Lâm, chính văn bia Thanh Mai sau này được Tính
Quảng và Hải Lượng sử dụng để viết về tiểu sử của Tổ trong Tam Tổ thực lục, đã tổng kết như “đúc
tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn 1.300 vị, tạo đại già lam được hai
ngôi, xây tháp được năm ngọn, lập Tăng đường hơn hai trăm sở, độ Tăng Ni
hơn một vạn năm ngàn người, khắc in được một bộ Đại tạng kinh, đệ tử
đắc pháp hơn mười người, thành đại pháp sư có sáu vị”.
Bên cạnh những Phật sự này, Tổ cũng để lại cho ta một số tác phẩm mà ngày nay đã tán thất, chưa tìm thấy được như Đoạn sách lục, Tham thiền chỉ yếu, Kim cang tràng đà-la-ni kinh, Tán Pháp hoa kinh khoa sớ, Bát-nhã tâm kinh khoa sớ… Cũng may là vào thế kỷ XVIII, khi Tính Quảng và Hải Lượng tập hợp tư liệu để cho ra đời bộ Tam Tổ thực lục thì
có khả năng Tham thiền chỉ yếu hoặc một bộ phận của nó vẫn còn lưu
hành. Cho nên, ba đoạn phiến liên hệ đến thiền đã được trích và ghép vào
sau phần tiểu sử của Tổ là Khuyến xuất gia tấn đạo ngôn, Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết, Yếu minh học thuật. Những trích đoạn này cho thấy một phần nào quan điểm thiền học của Phật giáo Trúc Lâm nói chung và của Tổ nói riêng.
Chính
nỗ lực phát triển Phật giáo Trúc Lâm này đã để lại những dấu ấn sâu đậm
và lâu dài trong lịch sử dân tộc, tạo nên một nền văn hiến điển chương
mà các thế hệ con cháu đã tiếp tục kế thừa và phát huy. Việc này giúp ta
xác định được vai trò của Phật giáo Trúc Lâm trong lịch sử dân tộc. Đây
là điều chúng tôi muốn đề cập tới trong lần kỷ niệm 687 năm ngày mất
của Tổ.
Trong Hải ngoại ký sự,
Thiền sư Thích Đại Sán (1633-1705) của Trung Quốc trong lần đến du hóa
tại nước ta vào thời gian 1694-1695 theo lời mời của Chúa Nguyễn Phúc
Chu (1675-1725) đã ghi lại cuộc trao đổi chữ nghĩa và thi ca giữa ông
với Học sĩ Hào đức hầu Nguyễn Hữu Hào (?-1713), anh ruột của Chưởng lễ
hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Điểm may mắn là Thiền sư đã chép lại các bài thơ và
văn của cuộc trao đổi này, cho ta thấy phần nào ảnh hưởng sâu rộng mà
Phật giáo Trúc Lâm đã để lại 400 năm sau.
Theo ghi chép của Thiền sư Thích Đại Sán khi ông đến Thuận Hóa vào tháng Giêng năm Khang Hy thứ 34 (1695), thì “một hôm, có Đại học sĩ Ký lục Hào đức hầu sai con mình đem một bài thơ thất ngôn Đường luật cùng tiền bạc đến ra mắt”. Bài thơ được chép lại trong Hải ngoại ký sự quyển 1, tờ 35b3-6 như sau:
Văn thuyết thiền lâm tổ phái hồng
Nga thừa trạch cập tế lưu thông
Hạnh đàn bổ ánh ma ha nguyệt
Mai dũ huân lai bát nhã phong
Tương sắc tức không, không tức sắc
Ức mông cầu ngã, ngã cầu mông
Đồng tâm dị quốc tương tư yểu
Hỷ hướng Hổ khê tam tiếu trung.
(Nghe nói rừng thiền mạch rộng khơi
Thấm nhuần ơn trạch khắp nơi nơi
Ma ha trăng dọi trên đàn hạnh
Bát nhã gió lồng trước cửa mai
Kìa sắc ấy không, không ấy sắc
Nào ai cầu tớ, tớ cầu ai
Lòng chung nước khác mênh mông nhớ
Suối Hổ nhìn nhau vui vẻ cười)
Trong
bài thơ này, Nguyễn Hữu Hào đã dùng đến điển “ma ha nguyệt” mà Thạch
Liêm đã cho là không đáng, cần phải thảo luận lại. Thích Đán Sán đã viết
thư, dẫn điển “bồ đề nguyệt” của Bạch Cư Dị để đề nghị thay thế cho “ma
ha nguyệt”. Đến ngày 24 tháng 3 năm Khang Hy thứ 34, Nguyễn Hữu Hào đã
viết một lá thư dài giải thích tại sao ông dùng điển “ma ha nguyệt”:
“Trộm nghe, người xưa làm thơ là để hứng khởi lòng người, là để xem
phong tục, phần nhiều lấy tên cỏ cây chim muông, chẳng qua là để ngâm
vịnh tính tình, sao cho tư tưởng không quấy mà thôi.
Chỗ
quý nhất là ý thơ trung hậu, chỗ đáng khinh nhất là lời văn phù hoa.
Không thể lấy văn mà hại lời, không thể lấy lời mà hại ý vậy. Huống chi,
bồ đề, ma ha, bát nhã xưa nay chẳng có một vật nào cả. Ma ha không có
vật, đó là không có trăng vậy. Bồ đề không có cây, há có trăng ư? Bát
nhã không có buồm, há có gió ư? Người làm thơ chẳng qua dùng gió để so
với sự mát mẻ, dùng trăng để sánh với sự tròn sáng để ta hình dung, tính
sắc sắc không không mà thôi. Há có trăng thật, gió thật để phải bàn bồ
đề, ma ha, bát nhã là đáng dùng ư?
Người
xưa nói: “Ma ha vốn là bản thể của chân như, lớn không có gì ngoài, nhỏ
không có gì trong, trời không thể che, đất không thể chở, sáng soi khắp
nơi, không chỗ nào không tới. Lại nói, ma ni hiện ngũ sắc, trăng phát
vừng sáng. Đó đều là trực chỉ toàn đề mà nói, chứ chẳng phải nói suông
một bên. Tôi đặc biệt dùng trăng ma ha là vì thế”.
Sau
khi nhận được bức thư dài biện bạch về việc dùng điển tích “ma ha
nguyệt” của Nguyễn Hữu Hào, Thích Đại Sán tuy thừa nhận lá thư “lời lẽ
uyển chuyển, ý tứ sâu xa, chỉ duy lời bàn về ‘ma ha chân như’ là khiên
cưỡng chưa đáng” nên đã viết một bức thư dài bàn tiếp. Trong lá thư đó,
cuối cùng, ông thừa nhận ‘ma ha nguyệt’ về mặt sự lý pháp dụ thì các
sách vở trong và ngoài Phật giáo đều không có xuất xứ”. Vậy rõ ràng nếu
căn cứ vào điển tích Trung Quốc trong cũng như ngoài Phật giáo đều không
nhắc đến điển “ma ha nguyệt” này. Vậy điển này từ đâu tới?
Rất may, tư liệu điển tịch Phật giáo Việt Nam trước thời Nguyễn Hữu Hào đã cho ta cứ liệu về điển tích này. Đó là bài Vịnh Vân Yên tự phú của
Thiền sư Huyền Quang (1251-1334), vị đệ tử nổi bật của tổ Pháp Loa. Kết
thúc bài phú này, tổ Huyền Quang đã viết một bài kệ Đường luật như sau:
Rũ không thày thảy áng phồn hoa
Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà
Khuya sớm sáng chong đèn bát nhã
Hôm mai rửa sạch nước ma ha
Lòng thiền vặc vặc trăng soi giãi
Thế sự hiu hiu gió thổi qua
Cốc được tính ta nên Bụt thực
Ngại chi non nước cảnh đường xa
Căn
cứ vào bài kệ này của Tổ Huyền Quang, ta thấy việc dùng điển “ma ha” đi
với “bát nhã” là khá phổ biến trong văn học Phật giáo Việt Nam. Ta
không biết trước Tổ Huyền Quang có người nào ở Việt Nam đã sử dụng điển
nào hay không, vì hiện ta chưa có văn bản nào. Chắc chắc từ Tổ Huyền
Quang trở đi, việc sử dụng điển này đã phổ biến đến nỗi những người sống
ở phía Nam sông Gianh như Học sỹ Nguyễn Hữu Hào, gần 400 năm sau, ở thế
kỷ XVII, đã sử dụng và bảo vệ cách sử dụng điển này. Điều đó cho ta
những thông tin gì?
Trước
hết, nó cho ta thấy Phật giáo Việt Nam phía Nam sông Gianh vào thời
điểm ấy là một nền Phật giáo mang nặng tính chất Việt Nam, kế thừa
truyền thống văn hóa Phật giáo Việt Nam. Thứ hai, truyền thống văn hóa
Phật giáo Việt Nam này rõ ràng là truyền thống văn hóa Phật giáo Trúc
Lâm qua việc dùng điển tích như “ma ha nguyệt”. Việc này bác bỏ mọi luận
điệu sai lạc, cho rằng sự thiết lập triều đại nhà Hậu Lê, trong đó có
cả Lê Trung Hưng, đã làm cho Phật giáo Trúc Lâm tàn lụi với lý do nhà Lê
không muốn người dân Việt Nam nhớ đến nhà Trần thông qua nền Phật giáo
Trúc Lâm này.
Trong
liên hệ đây, cần nhắc đến sự kiện vùng đất Lam Sơn nơi khởi nghiệp của
gia đình Lê Lợi và sau này là địa điểm khởi nghĩa của phong trào cứu
nước Lam Sơn, vùng đất này, Lam Sơn thực lục đã gọi là vùng đất Phật
Hoàng. Phật Hoàng là tên thường dùng để gọi Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
Hệ luận tất yếu của kết luận vừa nêu xác nhận sự phát triển mạnh mẽ của
Phật giáo Trúc Lâm qua toàn thời kỳ nhà Hậu Lê và Lê Trung Hưng.
Như
thế, từng bước với những phát hiện cứ liệu mới, ta có thể viết lại lịch
sử của Phật giáo Trúc Lâm, tức là Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ XIV
trở đi một cách đầy đủ và chính xác hơn, bác bỏ những luận điệu sai lầm,
thiếu chứng cứ về sự lụi tàn của Phật giáo Trúc Lâm trong 400 năm ấy và
đề cập đến việc phục hưng của Phật giáo Trúc Lâm với những người như
Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng hay Minh Châu Hương Hải. Những vị này,
cùng với những người đương thời ở phía Nam như Nguyễn Hữu Hào và các vị
tiền bối trước khi Viên Phái, Pháp Tính đã kế thừa, duy trì và phát
triển mạng mạch của Phật giáo Trúc Lâm trong giai đoạn đó.
Điểm
thứ ba và lý thú nhất là việc Học sĩ Nguyễn Hữu Hào vẫn giữ lập trường
của mình trước một tri thức Phật giáo như Thích Đại Sán. Đây là điểm ta
cần chú ý khi nhìn vào quá trình hình thành và phát triển của văn hóa
Việt Nam, bởi vì nó thể hiện tinh thần độc lập văn hóa vốn là yếu tố cốt
lõi, vì nếu mất văn hóa là mất tất cả.
Ta
có thể xem đây là đóng góp to lớn nhất của Phật giáo Trúc Lâm đối với
lịch sử dân tộc ta. Nền Phật giáo này một phần nào đã hun đúc và gây
dựng nên bản lãnh văn hóa và bản lĩnh con người Việt Nam. Đây là giai
đoạn mở rộng biên cương tổ quốc và chính những con người như Học sĩ
Nguyễn Hữu Hào và những bậc tiền bối đã tạo dựng nên giai đoạn vẻ vang
đó của lịch sử dân tộc.
Phật
giáo Trúc Lâm do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập đã góp sức mình vào
sự nghiệp vĩ đại đó. Và đó là ta chưa bàn đến cách thức mở rộng biên
cương phía Nam của những bậc tiền bối của Nguyễn Phúc Chu và Nguyễn Hữu
Hào như Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần đã sử dụng
con đường hôn nhân để dân tộc tiến bước đi về phía Nam. Phật giáo Trúc
Lâm một lần nữa có những đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc, trong đó
có cả quân sự, đường lối ngoại giao, kinh tế, văn hóa và cả giáo dục.
GS.TS Lê Mạnh Thát (Thượng tọa Thích Trí Siêu)
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại TP.HCM