. Đồ tể là người làm nghề
giết mổ, chuyên giết mổ súc vật; trong khi đó, một trong những trọng
giới của nhà Phật là giới sát. Người Phật tử đã không được phép hại mạng
sống của chúng sanh, lẽ nào người sống bằng nghề giết mổ, cả đời lấy đi
mạng sống của biết bao sinh vật, chỉ cần buông đao xuống là đã có thể
thành Phật, lại còn thành Phật ngay lập tức? Tất nhiên, người đọc cũng
hiểu, thành ngữ này có tính thậm xưng, nói quá hơn sự thật, để nhắc nhở
rằng mọi người đều có Phật tính; chỉ cần nhận thức được hành vi mang
nghiệp nặng của mình, quyết tâm từ bỏ, thì có thể thành Phật. Kinh điển
nhà Phật có đề cập trường hợp phạm ác nghiệp nặng nề nhưng khi biết hối
cải thì đã đạt được thánh quả.
Trường hợp thứ nhất được nêu trong kinh Angulimala, bản kinh số 86
thuộc Trung bộ, nói về một sát thủ nổi tiếng có biệt danh là Daku
Angulimala (Kẻ đeo xâu chuỗi bằng ngón tay người). Dưới thời Đức Phật, ở
xứ Kosala của vua Pasenadi, một dạo, có một kẻ chuyên giết người để
chặt lấy một ngón tay, sau đó xâu các ngón tay ấy vào thành một chuỗi
đeo ở cổ. Người này hoạt động đơn độc, không cướp của, nhưng có sức mạnh
và khéo lẩn tránh. Hành vi của người này khiến dân chúng khắp cõi
Kosala đều hoang mang. Dân chúng xứ Kosala cầu xin nhà vua truy lùng để
trừ họa hại cho dân nhưng quan quân mấy lần vây bắt đương sự mà không
thành công. Theo kinh Bổn sanh thì Đức Phật quán sát biết người này
trong các tiền kiếp cũng từng có quan hệ thân tộc với Ngài và vốn là
người có thiện tâm, chẳng qua vì có tà kiến rằng cần phải kiếm đủ 1.000
ngón tay để làm lễ vật dâng người dạy thần thông cho mình thì thần thông
ấy mới có hiệu nghiệm nên mới trở nên tàn ác. Đức Phật quyết tâm thu
phục Angulimala, vừa giải thoát tà kiến cho người này, vừa tiêu trừ họa
hại cho dân chúng. Lúc ấy, Angulimala đã thu thập đủ 999 ngón tay và
đang bị truy bắt ráo riết. Lệnh truy bắt Angulimala đến tai một người là
phu nhân của một vị đại thần trong triều của Pasenadi; tuy không biết
Angulimala là ai nhưng vị phu nhân này đoán rằng đó chính là con trai
của mình, vốn có tên là Ahimsaka (Kẻ không gây hại), cái tên đã được đặt
nhằm giải trừ một điềm báo khi con bà mới sanh rằng đứa trẻ lớn lên sẽ
trở thành một kẻ giết người không gớm tay. Cũng theo kinh Bổn sanh thì
người con này đã được nuôi dạy rất cẩn thận để trở thành người hiền,
nhưng khi trưởng thành, lại được gửi đến cách nhà vài trăm dặm để theo
học một vị thầy nổi tiếng đương thời, và lập tức trở thành sát thủ ngay
sau khi rời khỏi nhà thầy nên gia đình không biết về hành vi tàn ác của
người con. Bà mẹ thương con, khẳng định Angulimala là con mình, tìm cách
báo cho Angulimala biết lệnh truy bắt của nhà vua. Nghe tin Angulimala
trốn tránh tại một khu vực hẻo lánh, bà lên đường tìm con. Bấy giờ cũng
là lúc Đức Phật quyết định cứu giúp Angulimala. Đức Phật dùng thần thông
tiến vào con đường nơi Angulimala rình rập chờ giết người thứ 1.000.
Nhiều người thấy Đức Phật đi vào con đường ấy đều năn nỉ Ngài không nên
đi tiếp vì sợ Ngài bị Angulimala làm hại. Từ chỗ ẩn nấp, trước hết
Angulimala thấy có một người đang đi trên đường và nhận ra đó chính là
mẹ mình. Kẻ sát nhân vừa lóe lên ý định sát hại bà để thành tựu xâu
chuỗi 1.000 ngón tay thì trông thấy Đức Phật cũng đang đi tới. Trong một
thoáng, anh ta nghĩ rằng không nên giết mẹ mà hãy cố giết vị sa-môn
kia, mặc dù giết vị sa-môn thì khó khăn hơn là giết mẹ, một người phụ nữ
yếu đuối. Anh ta đuổi theo Đức Phật, nhưng càng đuổi thì khoảng cách
giữa anh ta với Đức Phật càng xa, mặc dù Đức Phật vẫn đi theo nhịp thiền
hành. Ngạc nhiên, Angulimala gọi lớn, “Sa- môn, hãy đứng lại!”. Đức
Phật trả lời y, “Ta đã đứng lại rồi, này Angulimala. Còn ngươi, cũng hãy
đứng lại!”. Câu trả lời của Đức Phật làm Angulimala hoang mang. Và
thiện tính của người này bừng sáng. Những câu đối đáp tiếp theo giữa kẻ
sát nhân và Đức Phật đã củng cố ý thức của anh ta. Angulimala xin được
theo Phật, từ bỏ ác nghiệp. Kinh Trung Bộ cho biết sau đó Angulimala tu
tập tinh tấn, nhẫn nhục chịu nhiều quả báo đau khổ, rồi đạt thánh quả
A-la-hán.
Trường hợp thứ hai được ghi trong kinh Đại Bát Niết- bàn thuộc Đại
Chính tân tu Đại tạng kinh, chỉ nhắc qua trường hợp một người làm nghề
bán thịt ở thành Ba- la-nại có tên là Quảng Ngạch, mỗi ngày đều giết
không biết bao nhiêu là con dê; một hôm gặp được Tôn giả Xá-lợi-phất,
xin thọ Bát giới kinh một ngày một đêm, nhờ nhân duyên ấy, sau khi qua
đời, được thác sanh lên cõi trời của Tỳ-sa-môn thiên vương ở phương Bắc.
Đấy là những sự tích lấy từ trong kinh điển nhà Phật, cho thấy những
người làm ác một khi nhận thức được ác nghiệp, quyết tâm từ bỏ, đều có
thể đạt tới sự giác ngộ tối thượng. Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ còn ghi
nhận trường hợp vua Asoka (A-dục), một vị vua nổi tiếng tàn bạo, giết
sạch ngay cả những người anh em cùng cha khác mẹ của mình để chiếm ngôi,
mở rộng đế quốc của mình bằng những chiến dịch chinh phạt hung hãn;
nhưng cũng chính cảnh tang tóc của chiến tranh đã khiến nhà vua hối hận.
Ông quay đầu về với lý tưởng hòa bình của Phật giáo, trở thành một Phật
tử thuần thành, một vị hoàng đế của lòng từ, góp phần truyền bá Phật
giáo ra ngoài đất Ấn Độ, được người đời xưng tụng là bậc hộ pháp vĩ đại
nhất của Phật giáo.
Nhìn từ góc độ cá nhân, con dao chỉ là vật để giết mổ. Nhưng đứng ở
góc độ xã hội như trường hợp vua Asoka, đao trong câu thành ngữ dẫn trên
có thể được hiểu là biểu tượng của quyền lực. Con người có quyền lực có
thể vì tham vọng, vì vô minh, vì tà kiến mà trở nên tàn bạo. Nhưng ngay
khi nhận thức được ác nghiệp, thì chính quyền lực đem lại phúc lợi lớn
cho nhiều người.
Lịch sử luôn lên án những cuộc chinh phục vì tham vọng, những hoạt
động buôn bán vũ khí, buôn bán nô lệ quy mô toàn cầu, những cuộc chiến
tranh xâm lược tiêu diệt hẳn một vài dân tộc và nền văn hóa, vì tà kiến
cho rằng chỉ có đấng thượng đế mà mình tôn sùng mới chính đáng, còn tất
cả những niềm tin khác biệt đều là tà giáo. Lịch sử cũng phê phán gay
gắt những bạo chúa sử dụng quyền lực giết hại nhiều người, cưỡng đoạt
của nhân dân làm kiệt quệ đất nước chỉ phục vụ cho cá nhân và dòng tộc.
Lịch sử cũng kết tội những nhà tư bản chỉ biết lũng đoạn đầu cơ bóc lột
người lao động, người tiêu thụ để làm giàu cho chính mình, tập trung
những khoản của cải kếch xù mà không biết giúp đỡ ai.
Nhưng lịch sử cũng ghi nhận công ơn không ít những nhà chính trị,
quân sự phải giải quyết vấn đề độc lập, tự do, phú cường cho đất nước,
biết sử dụng công cụ quyền lực để trừng trị kẻ xấu xa hại dân hại nước
một cách chính đáng, biết giảm thiểu thiệt hại trong mọi quá trình tranh
chấp, biết dưỡng sức dân trong chiến tranh để hướng đến lúc xây dựng
trong hòa bình.
Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 143