01/09/2010 20:51 (GMT+7)
Số lượt xem: 48665
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng


Nghi Thức Tịnh Độ .

Thích Giác Tâm Biên Soạn .

Chùa Bửu Minh – Gia Lai năm 2000



phat a di da 1.jpg



Nghi thức Tịnh Độ - chương 07


CẢM NGHĨ VỀ

ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

 

(HT.Thích Trí Quảng)

 

      Kinh A Di Đà  xuất phát từ kinh Quán Vô Lượng Thọ, theo đó đức Phật xác định cuộc sống con người quá ngắn ngủi, nên Ngài chỉ người tìm về nơi có thọ mạng lâu dài hay vô lượng thọ. Ngoài ra, kinh A Di Đà cũng phát sinh từ tinh thần mong muốn thoát khỏi thế giới khổ đau này để trở về sống  ở cõi Cực lạc vĩnh hằng.

      Thật  vậy, Đức Phật Thích Ca nói kinh này cho vua Tần Bà Sa La và hoàng hậu Vy Đề  Hy nghe khi họ rơi vào tâm trạng khổ đau cùng cực, mạng sống mong manh như chỉ mành treo chuông vì bị con là A Xà Thế soán ngôi, nhốt vô ngục. Trong lúc khổ sở vô cùng, vua và hoàng hậu mới thấm thía lời Phật dạy về cuộc đời là khổ, giả tạm, vô thường. Lúc trước, Phật cũng dạy như vậy, nhưng còn ở ngôi vị có đầy quyền thế thì họ làm thế nào tin và nghe theo Phật được. Phải đến lúc lâm vào hoàn cảnh bi đát, tuyệt vọng cùng đường, họ chợt nhớ lời Phật dạy, thì không sợ khổ, sợ chết nữa và lóe sáng trước mắt nếp sống vĩnh hằng, an lạc ở thế giới phương Tây của Đức Phật Di Đà.

      Kinh A Di Đà được Đức Phật thuyết ở Xá Vệ, lúc đó Ngài đâu còn ở Vương Xá mà  nói kinh này cho vua nghe. Có thể hiểu rằng trong cảnh ngộ khổ đau quá sức, vua và hoàng hậu hết lòng hướng về Phật, tỏ ngộ được điều Phật dạy, liền được giải thoát chứng sơ quả. Họ nghe Phật dạy là nghe bằng tâm thanh tịnh và Phật đến với họ cũng bằng tâm thanh tịnh, từ bi. Vì vậy, kinh diễn tả là Phật hiện thân vô ngục nói pháp cho vua. Có thể nói kinh Di Đà  thích hợp với hoàn cảnh khó  khăn, nguy hiểm; vì Phật nói kinh này trong lúc bình yên, nhưng thật sự lúc gặp nguy biến, chúng ta mới cảm nhận ý Phật một cách sâu sắc.

      Kinh Di Đà  được phát triển mạnh khi truyền sang Trung Quốc và được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn. Ngài Huệ Viễn lãnh hội yếu chỉ kinh và lập ra Tịnh độ tông. Khi tông này truyền sang Nhật Bản, được Ngài Pháp Nhiên và Thân Loan triển khai thành Tịnh độ tông  và Chân tông, vẫn còn phát triển mạnh đến ngày nay. Ở Việt Nam không thành lập Tịnh độ tông,  nhưng hầu hết các chùa từ thời Lê - Nguyễn, là thời kỳ đen tối của Phật giáo, đều có thờ cúng Đức Phật Di Đà.  Cho đến thời cận đại, mặc dù  chùa Việt Nam mang dáng dấp chùa Thiền và chư Tăng  đều nhận hệ phả  của Thiền tông, nhưng đa số các chùa đều tôn trí tượng Phật Di Đà, tụng kinh Di Đà và niệm hồng danh Phật Di Đà hằng ngày.

      Phải chăng kinh Di Đà người thích hợp vì chúng ta không thể nào ưa thích thế giới khổ đau, nhiều bất trắc này, nhất là trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, mọi người hoàn toàn bất lực trước sóng gió khó khăn bủa vây dồn dập. Từ đó, chúng ta dễ dàng ước mơ được sống trong một thế giới an lạc. Rõ ràng có khổ, mới mong được an vui: bị bức ngặt trong hạn hẹp, mới ước mong vĩnh hằng. Vì vậy, Đức Phật nói kinh này thích hợp với Ta Bà vì nơi đó mạng sống ngắn ngủi, vạn vật vô thường.

      Và xa hơn nữa, một số người diễn giải rằng sau Phật diệt độ, ở đời mạt pháp, tất cả kinh điển của Phật đều mất hết, còn kinh Di Đà tồn tại thêm 100 năm. Và cuối cùng, kinh Di Đà cũng mất, chỉ còn 6 chữ Nam mô A Di Đà Phật.

      Điều này được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Nếu hiểu theo tinh thần tiêu cực, bi quan, họ cho rằng sau Phật diệt  độ, giáo pháp sẽ mất lần cho đến ngày nào đó thì bị tiêu luôn, không còn Phật pháp nữa. Bấy giờ, chúng ta chỉ còn cách duy nhất thật đáng thương là niệm 6 chữ Nam mô A Di Đà Phật để được vãng sanh.

      Tuy nhiên, theo tinh thần Đại thừa, đặc biệt là theo kinh Pháp Hoa, đức Phật phương tiện hiện Niết bàn để mọi người tự nỗ lực tu hành, không ỷ lại có Phật bên cạnh lo cho ta. Mục tiêu của Phật nhằm chỉ dạy chúng ta con đường thăng hoa, phát triển xã hội, không phải đề ra tư tưởng tiêu cực, dắt chúng ta vào ngõ cụt bi quan. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật chỉ rõ sanh thân Thích Ca  có nhập diệt hay đó là hình ảnh của mạng người ngắn ngủi mà Ngài thường nhắc nhở chúng ta, để đừng sanh tâm bám víu, tham đắm với thân hữu hạn ấy. Tuy nhiên, Đức Phật cho biết ngoài thân hạn hẹp, tạm bợ mà Ngài ứng hiện trên cuộc đời để độ sanh, Ngài còn có Báo thân viên mãn, nghĩa là thân phước đức, trí tuệ vẹn toàn và Pháp thân vĩnh hằng bất tử.

      Đức Phật giới thiệu với chúng ta Phật Di Đà  có vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức; hay nói cách khác, đó là tiêu biểu của Báo thân Phật. Sở dĩ Phật Di Đà có 3 điều quý báu vô giá ấy vì Ngài đã trải qua vô lượng kiếp hành Bồ Tát đạo, vun trồng hạt giống trí tuệ, hạt nhân khỏe mạnh và trồng cội công đức, mới hình thành được thân phước đức, trí tuệ, tức Báo thân  Phật. Điều đó mở ra cho chúng ta một định hướng mới rõ ràng của Phật giáo Đại thừa, theo đó chúng ta nỗ lực dấn thân trên con đường tự hành hóa tha, để phát huy trí tuệ, kéo dài mạng sống, tạo mọi lợi ích cho đời, chứ không phải chỉ sống tiêu cực.

      Thật vậy, trong kinh Bảo Tích nói rõ về tiền thân Đức  Phật Di Đà  trải qua quá trình tu hành, tự cải tạo cuộc sống thành tốt đẹp. Xưa kia, vì không có trí tuệ, Ngài cũng sống khổ đau, thọ mạng ngắn ngủi. Nhưng nhờ nương lời Phật dạy, Ngài phát huy trí tuệ, trở thành Pháp Tạng Tỳ kheo sáng suốt, giảio thoát, an vui và từ đó bước chân vào đời, cứu khổ ban vui cho người, làm lợi ích cho đời, thi Ngài trở thành Pháp Tạng Bồ tát. Với phước đức trí tuệ của Bồ tát, Pháp Tạng dấn thân vào  việc xây dựng thế giới Cực Lạc. Đến khi viên mãn hạnh nguyện Bồ tát, xây dựng xong Phật độ, Ngài trở thành Phật A Di Đà, làm Giáo chủ Tây phương Tịnh độ. Những gì Đức Phật Di Đà đã làm  để thay đổi cuộc sống khổ đau thành an vui, đổi mạng sống ngắn ngủi thành lâu dài, thiết nghĩ  không có gì là khó hiểu đối với chúng ta ngày nay.  Trước kia, người sống đến 70 tuổi thì hiếm, nên người ta thường nói "Thất thập cổ lai hy". Ngày nay, chúng ta sống đến 70, 80 tuổi là việc bình thường. Nếu có hiểu biết về y học, biết giữ gìn sức khỏe, chúng ta  kéo dài được tuổi thọ. Chỉ một việc đơn sơ ấy, ta đã hình dung ra được đời sống ở thế giới Cực Lạc có vô lượng thọ như thế nào.

      Theo tinh thần Pháp Hoa, nếu giáo pháp Phật cuối cùng chỉ gồm thu trong 6 chữ Nam mô A Di Đà Phật, thì điều đó có nghĩa là đạo Phật sống còn, tồn tại dài lâu với 3 điều tiêu biểu quan trọng nhất: trí tuệ, phước đức và sống lâu. Thiết nghĩ sức sống Phật giáo mang tính vĩnh hằngkhi hàng đệ tử Phật trang bị vững vàng yếu tố trí tuệ tồn tại mãi mãi, còn hình thức thì hữu hình, hữu hoại. Đức Phật dạy đệ tử Ngài lấy trí tuệ làm sự nghiệp là nghĩa như vậy. Ngoài ra, đệ tử Phật hiện hữu để giúp đỡ và mang an vui cho người làm lợi ích cho đời (là vô lượng công đức). Và chúng ta sống giản dị,  nhưng khỏe mạnh và sống lâu (tức vô lượng thọ).

      Kiến giải theo Pháp Hoa thì trí tuệ, công đức, và sức khỏe tốt, sống lâu là thọ mạng của Phật pháp; nghĩa là chúng ta sinh hoạt như thế nào để đạo Phật phải là biểu tượng của phước đức và trí tuệ. Vì phước đức, trí tuệ rọi vô tâm chúng sanh thân thành pháp thân để Phật pháp tồn tại. Nếu phước đức, trí tuệ không có, nghĩa là hiểu biết của ta không bắt kịp mọi người, việc làm  của ta chẳng lợi ích gì cho đời và cuộc sống ta không bằng người, được coi như Phật nhập diệt.

      Kết hợp Tịnh độ và Pháp Hoa nhìn về giáo pháp Phật mang tính vĩnh hằng bất tử là Pháp thân và Báo thân, thể hiện trong cuộc sống của hàng đệ tử Phật qua các thời đại. Vì vậy, dưới nhãn quan Pháp Hoa, không phải rời bỏ thế giới Ta Bà đi đến thế giới cách đây 10 muôn Đức Phật độ mới có Đức Phật A Di Đà. Thiển nghĩ sinh hoạt  của con người văn minh ngày nay cũng phải nhìn nhận rằng giáo lý chúng ta tuy đề cập nhiều vấn đề, nhưng nổi bật 3 vấn đề: trí tuệ, phước đức và sống lâu. Đó là những gì Phật dạy có giá trị thiết thực nhất trong mọi thời đại.

      Tóm lại, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật Thích Ca vẽ ra cho chúng ta thấy khổ đau hay an lạc, sáng suốt hay mê muội, sống lâu hay chết yểu, sống lợi ích cho đời hay vô dụng ..., đều do chính chúng ta quyết định. Một trong những vị tu hành đi theo dấu chân Phật, triển khai tư tưởng Tịnh độ theo chiều hướng tích cực nói trên có Tổ Huệ Đăng, Ngài dạy:

Y theo giáo pháp Thích Ca,

Tự nhiên bổn tánh Di Đà phóng quang.

      Nghĩa là nếu hiểu rõ giáo pháp Thích  Ca, ứng xử được tinh ba của giáo pháp trong cuộc sống thì chúng ta tỏ ngộ được bản tánh Di Đà  là bản tánh sáng suốt của chính chúng ta. Chúng ta sáng suốt, tức Phật phóng quang, không phải Phật Di Đà  bên ngoài phóng quang cho ta. Nương lời Phật dạy, trí chúng ta được khai mở, sáng suốt, thì hết khổ đau, sống an lạc. Tinh thần trong sáng sẽ chỉ đạo cho ta có được việc làm thánh thiện, lợi lạc cho đời và sống an vui; đó là con đường mà Đức Phật Thích Ca, Phật Di Đà cùng chư Phật mười phương đều trải qua khi hành Bồ tát đạo giáo hóa chúng sanh vậy.

 

PHỤ LỤC 3

 

      Để diệt trừ  phiền giận, nuôi dưỡng thương yêu, phước đức, và đạt đến tuệ giác giải thoát. Ngòai pháp môn niệm Phật A Di Đà, thỉnh thoảng trong thời khóa tụng niệm hằng ngày, qúy Phật tử cũng nên trì tụng, học hỏi thêm các kinh: Kinh diệt trừ phiền giận – Kinh thương yêu – Kinh phước đức – Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân.

 

Khóa lễ trì tụng:

Kinh Diệt Trừ Phiền Giận, Kinh Thương Yêu, Kinh Phước Đức, Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân.

 

-    Kệ dâng hương

-    Cầu nguyện

-    Kệ tán phật

-    Đảnh lễ

-    Chú đại bi

-    Kệ mở kinh

 

KINH VĂN:

 

(Một trong bốn kinh nói trên)

-    Kinh Tinh Yếu Bát Nhã

-    Niệm Phật

-    Phát nguyện (hoặc tụng bài sám nào tùy thích)

-    Chơn ngôn quyết định vãng sanh

-    Hồi hướng

-    Tự quy y

 

Mười điều căn bản khi đọc kinh Phật

 

Phát sinh lòng từ khi đọc kinh

An mặc sạch sẽ, giữ gìn miệng thơm khi đọc kinh.

Chỗ ngồi (và bàn thờ nếu có) sạch sẽ khi đọc kinh.

Tư thế đứng hoặc ngồi nghiêm trang khi đọc kinh.

Tập trung tư tưởng lúc đọc kinh.

Đọc tròn chữ, rõ ràng, không chậm, không nhanh.

Để ý lời kinh, tránh đọc sai.

Giọng đọc không thê lương cũng không cốt yếu ở du dương nhằm khoe giọng của mình tốt.

Quán xét ý nghĩa kinh lúc  đọc tụng.

Sau khi đọc kinh luôn hồi hướng công đức cho mình, gia đình, đất nước và chúng sanh.

 

 

Mười điều căn bản khi niệm Phật

 

Mở rộng lòng từ khi niệm Phật.

Chỗ ngồi (và bàn thờ nếu có) trang nghiêm khi niệm Phật.

An mặc sạch sẽ, giữ gìn miệng thơm khi niệm Phật.

Tư thế nghiêm trang khi niệm Phật.

Tập trung tư tưởng, quán hạnh nguyện của vị Phật  hay vị Bồ Tát mình đang niệm danh hiệu.

Niệm Phật không chậm, Niệm Phật không gấp.

Tràng hạt  là phương tiện đếm lời nguyện do đó không nên cố chấp vào loại tốt, đẹp hay đặc biệt.

Lần chuỗi cùng một nhịp với lời nguyện.

Niệm Phật đúng số lần đã nguyện từ trước.

10) Sau khi niệm Phật luôn hồi hướng công đức cho mình, gia đình, đất nước và chúng sanh.

 

 

Kinh diệt trừ phiền giận

 

Đây là những điều tôi đã được nghe, hồi Phật còn cư trú trong tu viện Cấp Cô Độc, rừng Thắng Lâm, tại thành Xá Vệ.

Hôm ấy, tôn giả Xá Lợi Phất nói với các vị khất sĩ:

"Này các bạn đồng tu, hôm nay tôi muốn chia sẻ với các vị về năm phương pháp diệt trừ phiền giận. Xin các bạn lắng nghe và chiêm nghiệm".

Các vị khất sĩ vâng lời và lắng nghe.

Tôn giả Xá Phất Lợi nói:

- Năm phương pháp diệt trừ phiền giận ấy là những phương pháp nào? (Chuông)

 

Đây là phương pháp thứ nhất, này các bạn:

Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, nhưng lời nói lại dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

Này các bạn tu, ví dụ có một vị khất sĩ tu theo hạnh a lan nhã, ưa mặc y phấn tảo, một hôm đi qua một đống rác bẩn có phân, nước tiểu,, nước mủ và các thứ dơ dáy khác, trông thấy một tấm vải còn lành lặn. Vị ấy dùng tay trái  cầm miếng vải lên và lấy tay phải căng nó ra. Thấy miếng vải chưa bị rách thủng mà cũng không bị phân, nước tiểu, nước mủ và các chất dơ bẩn khác dính vào, vị ấy liền xếp miếng vải lại, cất lấy, đem về nhà để giặt sạch và may chung với các tấm vải khác làm y phấn tảo. Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà hành động không dễ thương nhưng lời nói còn dễ thương thì ta hãy đừng để tâm tới hành động của người ấy mà chỉ nên chú ý tới lời nói dễ thương của người ấy, để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy. (Chuông)

     

      Đây là phương pháp thứ hai, này các bạn:

Nếu có một ai đó mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

      Này các bạn tu, ví dụ như cách thôn xóm không xa có một hồ nước sâu nhưng mặt nước lại bị rêu cỏ che lấp. Lúc  bấy giờ có một người đi tới gần hồ, tự thân đang bị sự đói khát và nóng bức hành hạ. Người ấy cởi áo để trên bờ hồ, nhảy xuống, dùng hai cánh tay khoát rêu cỏ ra và khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước mát dưới hồ. Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà  lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương thì ta hãy đừng để tâm nghĩ tới lời nói của người ấy mà chỉ nên chú ý tới hành động dễ thương của người ấy thôi để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có  trí  phải nên thực tập như vậy. (Chuông)

 

Đây là phương pháp thứ ba, này các bạn:

Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

Này các bạn tu, ví dụ có một người đi tới ngã tư kia, kiệt sức, khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn. Tại ngã tư  ấy có một vết chân trâu, trong ấy còn đọng lại một ít nước mưa. Vị này nghĩ: “Mặc dù nước trong lỗ chân trâu ở ngã tư đường này rất ít, nhưng nếu ta dùng tay hoặc lá cây để lấy thì ta sẽ có thể quấy cho nó đục ngầu lên và sẽ không uống được, do đó sẽ không thể trừ bỏ được sự khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn trong ta. vậy ta hãy qùy xuống, tay và đầu gối áp sát đất, dùng miệng mà uống nước trực tiếp. Người ấy liền qùy dài xuống, tay và đầu gối áp sát đất, đưa miệng vào lỗ chân trâu mà uống. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương và lời nói cũng không dễ thương, nhưng trong tâm vẫn còn có chút ít sự dễ thương thì ta hãy đừng nên để tâm nghĩ tới hành động và lời nói không dễ thương của người ấy mà hãy nên chú ý tới cái chút ít sự dễ thương còn có trong tâm người ấy thôi để có thể dứt trừ được sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy. (Chuông)

Đây là phương pháp thứ  tư, này các bạn:

Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một chút gì gọi là dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

Này các bạn tu, ví dụ như có một kẻ đi xa, trên con đường dài nửa đường bị bệnh. Khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn đồng hành, thôn xóm phía sau đã lìa bỏ lâu rồi mà thôn xóm phía trước cũng còn cách đó rất xa, người đó đang lâm vào tình trạng tuyệt vọng, biết mình sẽ chết ở dọc đường. Trong lúc ấy, có một người khác đi tới, thấy được tình trạng này, liền ra tay cứu giúp. Người ấy dìu người kia tới được thôn ấp phía trước, chăm sóc, chữa trị và chu toàn cho về các mặt thuốc thang và thực phẩm. Nhờ sự giúp đỡ ấy mà người kia  thoát nạn. Sở dĩ người kia thóat nạn đó là nhờ ở lòng thương xót và lân mẫn của người này. Cũng như thế, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một cái gì có thể gọi là dễ thương hết, thì ta phải phát khởi tâm niệm này: “Một người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương, mà tâm ý cũng không  dễ thương là một người rất đau khổ, người này chắc chắn đang đi về những nẻo đường xấu ác cực kỳ, nếu không gặp được thiện tri thức thì người ấy sẽ không có cơ hội chuyển hóa và đi về các nẻo đường hạnh phúc.” Nghĩ như thế, ta mở được lòng thương xót và lân mẫn, diệt trừ được sự phiền giận của ta và giúp được cho kẻ kia. Người có trí phải nên thực tập như thế. (Chuông)

 

Đây là phương pháp thứ  năm, này các bạn:

Nếu có một ai đó mà hành động dễ thương, lời nói cũng dễ thương mà tâm ý cũng dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sanh tâm phiền giận hoặc ganh ghét với kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.

Này các bạn tu, ví dụ cách ngoài thôn xóm không xa có một cái hồ thật đẹp, nước hồ đã trong lại ngọt, đáy hồ sâu mà bằng phẳng, bờ hồ đầy đặn, cỏ xanh mọc sát quanh hồ, bốn phía cây cối xanh tươi cho nhiều bóng mát. Có một kẻ kia đi tới bên hồ, khát nước, phiền muộn, nóng bức, mồ hôi nhễ nhại. Người ấy cởi áo, để trên bờ hồ, nhảy xuống, khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước; tất cả những nóng bức, khát nước và phiền muộn của mình đồng thời tiêu tán hết. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một người mà hành động dễ thương, lời nói dễ thương mà tâm địa cũng dễ thương, thì ta hãy nên nhận diện tất cả những cái  dễ thương của người ấy về cả ba mặt thân, khẩu và ý mà đừng để sự phiền giận hoặc ganh ghét xâm chiếm ta. nếu không biết sống hạnh phúc với một người tươi mát như thế thì mình thực không phải là một người có trí tuệ. (Chuông)

 

Này các bạn tu, tôi đã chia sẻ với qúy vị về năm phương pháp dứt trừ sự phiền giận.”

 

Sau khi nghe tôn giả Xá Lợi Phất nói, các vị khất sĩ vui mừng tiếp nhận và hành trì theo. (Chuông)

                  (Trung A Hàm, kinh thứ 25)         

 

KINH THƯƠNG YÊU

 

      Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái, những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn và không đua đòi theo đám đông.

      Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì  mà các bậc thức giả có thể chê cười.

      Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

      Nguyện  cho mọi người và mọi loài được sống  trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

      Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

      Nguyện cho  đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

      Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài. (Chuông)

      Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ một cái gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

      Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả chắc chắn  vượt khỏi tử sinh. (Chuông)

                              (Metta Sutta, Sutta Nipata I)

 

KINH PHƯỚC ĐỨC

 

Đây là những  điều tôi được nghe hồi đức Thế Tôn còn cư trú gần thành Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc,  trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời  đã vào khuya, có một thiên giả hiện xuống thăm Người, hào quang và vẻ đẹp của thiên giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị thiên giả xin tham vấn Người bằng một bài kệ:

“Thiên và nhân thao thức

Muốn biết về phước đức

Để sống đời an lành

Xin Thế Tôn chỉ dạy.”

 

Và sau đây là lời đức Thế Tôn:

“Lánh xa kẻ xấu ác

Được thân cận người hiền

Tôn kính bậc đáng kính

Là phước đức lớn nhất.

 

“Sống trong môi trường tốt

Được  tạo tác nhân lành

Được đi  trên đường chánh

Là phước đức lớn nhất.

 

“Có học, có nghề hay

Biết hành trì giới luật

Biết nói lời ái ngữ

Là phước đức lớn nhất.

 

“Được cung phụng mẹ cha

Yêu thưông gia  đình mình

Được hành nghề thích hợp

Là phước đức lớn nhất.

 

“Sống ngay thẳng, bố thí,

Giúp quyến thuộc, thân bằng

Hành xử  không tỳ vết

Là phước đức lớn nhất.

 

“Tránh không làm điều ác

Không say sưa nghiện ngập

Tinh cần làm việc lành

Là phước đức lớn nhất.

 

“Biết khiêm cung lễ độ

Tri túc và biết ơn

Không bỏ dịp học đạo

Là phước đức lớn nhất.

 

“Biết kiên trì, phục thiện

Thân cận giới xuất gia

Dự pháp đàm học hỏi

Là phước đức lớn nhất.

 

“Sống tinh cần, tỉnh thức

Học chân lý nhiệm mầu

Thực chứng được Niết Bàn

Là phước đức lớn nhất.

 

“Chung đụng trong nhân gian

Tâm không hề lay chuyển

Phiền não hết an nhiên,

Là phước đức lớn nhất.

 

“ Ai sống được như thế

Đi đâu cũng an toàn

Tới đâu cũng vững mạnh

Phước đức của tự thân.” (Chuông)

(Mahamangala sutta, Sutta Nipata II)           

 

Kinh tám điều giác ngộ

của các bậc đại nhân

 

      Là đệ tử Phật thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã giác ngộ.

 

      Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh, nhiều nguy biến. Những cấu tạo của  bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử. (Chuông)

 

      Điều thứ hai là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều  do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình được thư thái. (Chuông)

 

      Điều thứ ba là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi ta cũng theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát thì khác hẳn: họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ. (Chuông)

      Điều thứ tư là giác ngộ rằng thói quen lười biếng đưa đến chỗ đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo, phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma và ra khỏi ngục  tù của năm ấm và ba giới. (Chuông)

     

      Điều thứ năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên  mới bị giam hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thường xuyên nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài để giáo hóa cho mọi người, để cho  tất cả đạt tới niềm vui lớn. (Chuông)

 

      Điều thứ sáu là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người  ta sinh ra có nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm những nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình mà không đem tâm  ghét bỏ những ai đã làm ác. (Chuông)

 

      Điều thứ bảy là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng gây nên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục, thường quán niệm rằng tài sản của  mình chỉ là ba chiếc áo ca sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí, rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi để tiếp xử với tất cả mọi người. (Chuông)

 

      Điều thứ tám là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy cho nên ta phải phát tâm Đại Thừa, nguyện cứu tế cho tất cả mọi người, nguyện thay thế  cho mọi người mà chịu khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt tới niềm vui cứu cánh. (Chuông)

 

      Tám điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại nhân, Phật và Bồ Tát; những vị này đã tinh tiến hành đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân đến được bên Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ thoát cho chúng sinh, các vị đều dùng tám điều giác ngộ ấy để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến cho chúng sanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ được ngũ dục và hướng tâm vào con  đường thánh.

 

      Nếu đệ tử Phật mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử, thường trú  trong sự an lạc. (Chuông)

                              (Bát Đại Nhân Giác Kinh, 779

                              tạng kinh Đại Chánh)               

 

 

 

 

Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

Phật nói kinh A Di Đà

 

      Đây là những điều tôi đã được nghe Phật nói vào một thời người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây của thái tử Kỳ Đà. Hồi đó cùng ở bên Phật có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Phật mà ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Lầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Ni, Kiếp Tân Na,  Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà. Lại cũng có mặt các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật  Đa, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt. (Chuông)

      Lúc bấy giờ Phật gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: “Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một  vị Phật tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.

      “Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.

      “Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc, có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng,  bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là Cực Lạc.

      “Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc, có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và  tinh khiết. (Chuông)

      “Xá Lợi Phất, Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như thế.

      “Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Phật ấy người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường các vị  Phật đang cư trú ở vô số các cõi Phật khác. Đến giờ cơm trưa, mọi người đều về  kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy. (Chuông)

“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có  nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc Trắng, Khổng Tước, Anh vũ,  Xá Lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng… Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày thường hót lên những thanh âm hòa nhã: Trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất  bồ đề phần, bát thánh đạo phần… Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

“Xá Lợi Phất ! Thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở nước Phật kia không có ba nẻo đường đen tối là: Địa ngục, ngạ qủy và súc sanh. Xá Lợi Phất ! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thật về ác đạo. Những con chim kia đã được Phật A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, ở nước Phật ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm  thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được  tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.

“Xá Lợi Phất !  Thầy nghĩ sao? Đức Phật kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất ! Tại vì Đức Phật ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà.

“Hơn nữa, Xá Lợi Phất ! Thọ mạng của Đức Phật ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài  là thọ mạng  vô lượng, vô biên kiếp A Tăng Kỳ, vì vậy cho nên danh hiệu của ngài là A Di Đà.

“Xá Lợi Phất ! Từ khi Phật A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất ! Số đệ tử Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của Đức Phật ấy nhiều vô lượng, không thể đếm  được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng  đông đảo như thế.

“Này Xá Lợi Phất ! Nước Phật kia đã được xây dựng bằng  những công đức đẹp đẽ như thế. (Chuông)

“Này nữa Xá Lợi Phất ! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng  toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.

“Xá Lợi Phất ! Chúng sinh mọi nơi khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao? Tại vì sanh về nước ấy thì sẽ được sống chung và gần gũi vơi rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.

“Xá Lợi Phất ! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy. Vì vậy, Xá Lợi Phất, người con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe đến danh hiệu Phật A Di Đà phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ được thấy Phật A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút  ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán  loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.

“Xá Lợi Phất ! Vì thấy được cái lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với qúy vị rằng những ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy.

“Xá Lợi Phất, nếu trong giờ phút hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật  Tu Di Quang, Phật Diệu Âm và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, tại phương Nam có các vị Phật Nhựt Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn, và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, tại phương Tây có các vị Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, tại phương Bắc có các vị Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhựt Sanh, Phật Võng Minh và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, tại phương Hạ có các vị Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất, tại phương Thượng có các vị Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhứt Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới  tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, qúy vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất ! Thầy nghĩ  sao? Tại sao gọi kinh này là kinh mà tất cả các Phật đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm?

“Sở dĩ như thế, là vì  những người con trai hoặc con gái nhà lành nào nghe được kinh này và nghe được danh hiệu Phật A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phép niệm Phật thì những vị ấy sẽ được tất cả các vị Phật hộ niệm, và tất cả sẽ đạt tới quả vị giác ngộ cao tột, không còn bị thối chuyển. Vì  vậy  cho nên qúy vị hãy tin vào lời tôi đang nói, và cũng là lời chư Phật đang nói.(Chuông)

“Xá Lợi Phất, nếu có người đã, đang, hay sẽ phát nguyện sinh về nước Phật A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ phát nguyện đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã có mặt tại cõi nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy đã sinh, đang sinh, hay sẽ sinh về đó.

“Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của  chư Phật, thì  chư Phật cũng đang xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi, và nói: “Phật Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi Ta Bà đầy dẫy năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, và mạng trược mà Ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh  những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin”. (Chuông)

“Xá Lợi Phất ! Thầy nên hiểu cho rằng cư trú  trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới được quả vị giác ngộ vô thượng  và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin như pháp môn này, đó là một việc làm quả là cực kỳ khó khăn”.

Nghe Phật nói kinh này, thầy Xá Lợi Phất, tất cả các vị khất sĩ và mọi giới Thiên, Nhân, A Tu La v.v… ai cũng phát lòng tin tưởng, tiếp nhận, làm lễ Phật và lui về trú sở của mình. (Chuông)

                        (Sukhàvati - vyùha sùtra)

 


Trên Facebook

 

Âm lịch

Ảnh đẹp

Từ điển Online

Từ cần tra:
[Dịch văn bản]
Tra theo từ điển: