27/06/2018 21:31 (GMT+7)
Số lượt xem: 234
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

LỜI NÓI ĐẦU

Tập sách mỏng về Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso nầy bao gồm những đề tài liên quan đến Đức Đạt-lại Lạt-ma, một vị lãnh đạo tinh thần Phật giáo Tây Tạng cũng như của các Phật tử khắp trên thế giới. Những tài liệu nầy được tổng hợp từ Internet. Để người đọc tiện theo dõi, chúng tôi xin xếp thành ba đề mục.


Phần 1. Tóm tắt tiểu sử Đức Đạt-lại Lạt-ma

Phần 2. Những bài phỏng vấn Đức Đạt-lại Lạt-ma của nhiều người về nhiều đề tài khác nhau.

Phần 3. Những bài giảng, bài viết của Đức Đạt-lại Lạt-ma về Phật pháp, triết học, môi trường ...

Với lòng chí thành quý kính, ngưỡng mộ một hóa thân của  Bồ-tát  Đại bi Quán Thế Âm, đang mang đến những thông điệp tốt lành cho nhân loại, chúng tôi đem hết sức mình để phiên dịch và ấn tống tập sách nhỏ mang tinh thần siêu việt nầy. Tập sách chắc hẳn còn rất nhiều thiếu sót. Chân thành cầu thỉnh sự chỉ giáo của quý vị, chúng tôi nguyện tiếp thu để học hỏi.

Nếu việc làm nầy có được chút  công đức, xin nguyện hồi hướng cho mọi người  chóng thành tựu tuệ giác bồ-đề.

Người dịch: Thích Nhuận Châu

Tịnh thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm.


PHẦN I: TÓM TẮT TIỂU SỬ ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA

THỨ 14 TENZIN GYATSO (ĐĂNG-CHÂU GIA-MỤC-THỐ)

Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 sinh vào ngày 6 tháng 7 năm 1935, tên là Lhamo Thondrup, trong một gia đình nghèo ở Taktser, tỉnh Amdo. Từ Lhamo Thondu có nghĩa là ‘Thần ban phước cho lời ước nguyện’. Còn Taktser là tên làng, (có nghĩa là ‘hổ gầm’ một ngôi làng nhỏ và nghèo nằm trên đồi, nhìn xuống một thung lũng bao la. Đồng cỏ ở đây còn mênh mông, chưa có nhà ở hoặc trang trại, chỉ có dân du mục qua lại. Lý do là vì thời tiết thất thường ở vùng nầy. Như Đạt-lại Lạt-ma viết trong tự truyện của mình Tự do trong lưu đày[1] như sau: »Hồi thơ ấu, gia đình tôi là một trong 20 gia đình có đời sống rất bấp bênh trên mảnh đất nghèo đó«.

Cha mẹ của Đạt-lại Lạt-ma là những nông dân nghèo, hầu như chỉ trồng hai loại lúa mạch chính mà dân Tây Tạng thường dùng, xen lẫn khoai tây. Cha của Đạt-lại Lạt-ma là một người tầm thước, tính tình nóng nảy. »Tôi nhớ có một lần tôi kéo râu ông và bị một trận đòn rất nặng«. Đạt-lại Lạt-ma nhớ lại: »Tuy nhiên, ông là người rất nhân từ và không bao giờ thù hận ai«. Đạt-lại Lạt-ma nhớ lại về mẹ mình: »Mẹ tôi có lẽ là người phụ nữ nhân đức nhất đời mà tôi biết được«.

Đức Đạt-lại Lạt-ma có một người chị và ba người anh. Dolma là người chị cả, lớn hơn Đạt-lại Lạt-ma 18 tuổi. Đạt-lại Lạt-ma viết kể: »Khi tôi được mẹ sinh ra, chị Dolma đã giúp mẹ tôi hầu hết mọi việc trong nhà và còn làm cô mụ đón tôi ra đời nữa. Lúc vừa lọt lòng mẹ, thấy tôi chỉ mở một mắt, không chút do dự, chị lấy hai ngón tay banh hai mí của con mắt còn nhắm kia ra. Rất may, chị đã không làm hại gì mắt tôi cả«.

Người anh lớn của Đạt-lại Lạt-ma là Thupten Jigme Norbu, được xem là hóa thân của một vị Lạt-ma cao cấp, Taktser Rinpoche[2] – Gyalo Thondrup hơn Đạt-lại Lạt-ma 8 tuổi và người anh thứ hai, Lobsany Samten hơn Đạt-lại Lạt-ma 3 tuổi. »Dĩ nhiên, không ai trong gia đình tôi nghĩ rằng tôi là một đứa trẻ khác thường. Hầu như người ta khó có thể nghĩ rằng trong một gia đình mà lại sinh ra hai vị Tulku (hóa thân) và chắc chắn cha mẹ tôi cũng không bao giờ ngờ tôi sẽ được tôn làm Đạt-lại Lạt-ma«.

Dù sự kiện cha của Đạt-lại Lạt-ma khỏi bệnh khi ngài ra đời được xem như là một điềm lành, nhưng chẳng ai ghi nhận đó là một dấu hiệu gì trọng đại. »Tôi cũng không hay biết gì về những chuyện sẽ xảy ra«. Đức Đạt-lại Lạt-ma hồi tưởng lại ký ức thời tuổi nhỏ.

»Tôi nhớ có lần mình chứng kiến hai nhóm trẻ đánh nhau, tôi chạy đến giúp vào nhóm đang bị yếu thế ... Một việc tôi nhớ rất rõ thời nhỏ tuổi là lần theo mẹ tôi ra chuồng gà lượm trứng rồi nán ở lại đó. Tôi rất ưa ngồi vào trong ổ gà và miệng kêu cục tác giả tiếng gà mái kêu lúc đẻ trứng! Một trò chơi khác lúc còn nhỏ là tôi rất thích xếp đồ đạc vào trong một túi xách, làm như thể là mình sắp đi xa. Miệng lại nói: ›Tôi sắp đi Lhasa, tôi đi Lhasa đây‹. Chuyện nầy, cùng với chuyện tôi luôn luôn đòi ngồi đầu bàn, sau được mọi người cho là những dấu hiệu chứng tỏ đời tôi chắc là đã được dành sẵn cho những việc hệ trọng.«

Đức Đạt-lại Lạt-ma được xem là hóa thân của vị Đạt-lại Lạt-ma Tây Tạng thứ 13 tiền nhiệm[3] (vị đầu tiên[4] sinh năm 1351) được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm[5], là Bồ-tát  của lòng Từ bi vô lượng, còn được gọi là Liên Hoa Thủ Bồ-tát  (vị Bồ-tát  tay cầm hoa sen trắng). Thực vậy, nếu tìm về 14 đời trước nữa, thì Đạt-lại Lạt-ma là một chú bé thuộc dòng dõi Bà-la-môn sống vào thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. »Người ta thường hỏi tôi có thực tin như vậy hay không? Câu trả lời không giản đơn tí nào. Nhưng nay với tuổi 56, khi tôi đã quan sát được những kinh nghiệm từ cuộc sống đã cho tôi một niềm tin Phật pháp sâu sắc, tôi tin tưởng một cách dễ dàng rằng tôi có liên hệ tâm linh với 13 vị Đạt-lại Lạt-ma tiền nhiệm, với Bồ Tát Quán Thế Âm và với Đức Phật nữa«.

  

PHÁT HIỆN  ĐẠT-LẠI LẠT-MA

 

Khi Lhamo Thondup chưa đầy ba tuổi, thì phái đoàn do chính phủ Tây Tạng cử đi tìm kiếm hóa thân mới của Đạt-lại Lạt-ma tìm tới tu viện Kumbun. Họ đến đó là do một số điềm báo trước liên quan đến vị Đạt-lại Lạt-ma tiền nhiệm thứ 13, Thupten Gyatso, chết năm 1933, lúc ngài 57 tuổi. Ngài thị tịch trong tư thế ngồi kiết già, người ta phát hiện mặt ngài hướng về phía Đông Nam. Sau đó ít lâu, vị phụ chính (regent) cũng là một vị Lạt-ma niên trưởng (senior lama), đã có được linh kiến (vision). Khi nhìn xuống hồ thiêng Lhamoi Lhatso ở phía Nam Tây Tạng, ngài thấy rõ ràng ba chữ Tây Tạng Ah, Ka và Ma nổi trên mặt nước. Tiếp theo là hình ảnh một tu viện ba tầng, mái dát vàng, ma màu xanh hồ thủy, cùng một lối mòn nhỏ dẫn lên đồi. Cuối cùng, vị phụ chính còn thấy một ngôi nhà nhỏ có một máng xối với hình thù rất kỳ lạ. Vị phụ chính chắc chắn đó là chữ Ah, chỉ cho tỉnh Amdo, một tỉnh lỵ ở phía Đông Bắc Tây Tạng, nên một phái đoàn đã được phái đến đó tìm kiếm Lạt-ma tái sinh.

Khi họ tới Kumbun, các phái viên có cảm giác mình đã đi đúng đường. Nếu đúng chữ Ah hàm nghĩa là tỉnh Amdo, thì chữ Ka phải là tu viện Kumbun, vì quả thực tu viện nầy có ba tầng và có mái lợp màu xanh hồ thủy. Bây giờ họ chỉ cần xác định ngọn đồi và căn nhà nhỏ có máng xối kỳ lạ nữa mà thôi. Thế nên họ bắt đầu tìm kiếm qua khu làng bên cạnh. Họ nhìn thấy khúc thân cây đỗ tùng gồ ghề làm máng xối trên mái nhà của cha mẹ Đạt-lại Lạt-ma. Họ tin chắc rằng vị Đạt-lại Lạt-ma tái sinh không thể ở một nơi nào khác ngoài nơi đây nữa. Tuy nhiên, thay vì nói thật mục đích cuộc viếng thăm của phái đoàn, họ xin nghỉ lại ngôi nhà nhỏ đó một đêm. Kewtsang Rinpoché, người trưởng phái đoàn, đóng vai thị giả, suốt buổi tối, quan sát và chơi với cậu bé nhỏ nhất trong nhà (tức Đạt-lại Lạt-ma)

Cậu bé (tức Đạt-lại Lạt-ma) nhận ra ông ta và gọi: »Sera Lama, Sera Lama!«[6] Sera chính là tu viện của Kewtsang Rinpoche. Ngày hôm sau, họ rời khỏi ngôi nhà nhỏ. Rồi sau đó, họ trở lại như một phái đoàn viếng thăm chính thức. Họ mang theo rất nhiều đồ dùng và pháp khí của vị Đạt-lại Lạt-ma tiền nhiệm thứ 13, cùng một số đồ dùng khác giống hệt nhau nhưng không phải là vật của ngài. Lần nào, vị Đạt-lại Lạt-ma nhỏ tuổi cũng nhận ra đồ vật của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 tiền nhiệm: »Cái nầy của tôi! Nó của tôi!«

Điều nầy làm cho phái đoàn tin chắc rằng họ đã phát hiện ra hóa thân mới của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13. Chẳng bao lâu sau đó, cậu bé ở làng Taktser được công nhận là vị Đạt-lại Lạt-ma mới tái sinh.

Vị Lạt-ma mới phát hiện được đưa đến tu viện Kumbum. »Có chút gì đó không vui trong suốt thời kỳ phải xa cha mẹ tôi«. Sau nầy, Đức Đạt-lại Lạt-ma viết lại từ hồi ức về việc phải xa lìa gia đình và không khí nơi tu viện.

Tuy nhiên, có hai điều an ủi cho tôi khi sống trong tu viện. Trước hết là anh kế tôi, Lobsang Samten, cũng đang ở đây. Niềm an ủi thứ hai là vị sư già, thầy của anh tôi, ngài rất hiền từ, thường bọc tôi trong chéo áo của ngài.

Cuối cùng Đạt-lại Lạt-ma trẻ Lhamo Thondup được đoàn tụ với gia đình và sẽ cùng đi đến thủ đô Lhasa. Nhưng chuyến đi nầy phải chờ đến 18 tháng sau, vì ông tỉnh trưởng Ma Bufeng từ chối không cho cậu bé Lạt-ma tái sinh ra đi nếu không nộp cho ông ta một số tiền rất lớn. Cho đến mãi tới mùa hè năm 1939, vị Lạt-ma trẻ mới đi đến được thủ đô Lhasa, gặp được đầy đủ cha mẹ, cả anh trai Lobsang Samten, cả phái đoàn trước đây đã phát hiện ra Đạt-lại Lạt-ma tái sinh cùng nhiều Phật tử đi hành hương.

Cuộc hành trình đến Lhasa cần đến ba tháng. »Tôi nhớ rất ít các chi tiết. Chỉ nhớ là rất ngỡ ngàng trước những điều mà tôi được thấy: đàn bò rừng lông dài (drong) chạy nhốn nháo trên cánh đồng, những bầy lừa hoang (kyang) và thỉnh thoảng có bóng dáng những con nai nhỏ (gowa, nawa) chạy vụt qua thật nhanh như những bóng ma. Tôi cũng rất thích những đàn ngỗng lớn thường kêu lên inh ỏi mỗi khi chúng bay qua.«

Phái đoàn của Đạt-lại Lạt-ma Lhamo Thondup được một phái đoàn của chính phủ đón tiếp khi còn cách thủ đô Lhasa vài ngày đường, được hộ tống đến vùng bình nguyên Doeguthang, cách thủ đô chừng hai dặm đường. Nghi lễ tấn phong Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 làm vị lãnh đạo tinh thần cho cả nước Tây Tạng kéo dài suốt một ngày. Sau đó, đức Đạt-lại Lạt-ma được đưa đến Norbulingka cùng với người anh Lobsang Samten, đó là cung điện mùa hè của các vị Đạt-lại Lạt-ma, nằm ở phía Tây thủ đô Lhasa.

Vào mùa Đông năm 1940, Đạt-lại Lạt-ma Lhamo Thondrup được đưa qua cung điện Potala để chính thức nhận chức vụ lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Sau đó ít ngày, Đạt-lại Lạt-ma Lhama Thondrup được đưa đến chùa Jokhang, để được làm lễ xuống tóc (taphue) và hành điệu ở đó. »Từ nay, tôi được cạo đầu và đắp y ca-sa màu vàng«.

Đức Đạt-lại Lạt-ma bắt đầu được trang bị cho những kiến thức cơ bản gồm những chương trình bắt buộc cho tất cả các tăng sĩ để đạt được học vị Tiến sĩ Phật học (geshe), như văn hóa, tư tưởng Phật giáo, nghệ thuật Tây Tạng, tiếng Sanskrit và y khoa. Đây là môn học quan trọng nhất, gồm tư tưởng học thuật của năm ngành:

 - Prajñā parāmitā: trí tuệ bát nhã

 - Mādhyamika: Trung quán luận, học thuyết của Trung quán tông.

- Vinaya: Giới luật của người xuất gia

- Abhidharma:  A-tỳ-đạt-ma, vi diệu pháp, luận tạng, các luận giải kinh điển Phật giáo[7].

- Pramāṇa: nhân minh học[8]

 

THỜI THANH NIÊN CỦA ĐẠT-LẠI LẠT-MA

 

Một ngày trước khi đại hội ca kịch mùa hè năm 1950 bắt đầu, Đức Đạt-lại Lạt-ma vừa bước ra khỏi phòng tắm ở tòa nhà Norbulingka thì bỗng thấy mặt đất dưới chân rung chuyển. Khi hiện tượng tự nhiên nầy lan rộng, mọi người bắt đầu cho đó chẳng qua chỉ là một trận động đất mà thôi. Thực ra, đó chính là điềm báo trước những xáo trộn sẽ xảy đến.

Hai ngày sau, viên phụ chính Tathag nhận được một điện thư của chính quyền tỉnh Kham, ở vùng Chamdo, báo tin quân đội Trung Quốc đã tấn công một đồn binh của Tây Tạng. Mùa Thu năm trước, đã có tin chính phủ Trung Quốc cho quân lấn chiếm sang biên giới, họ có ý định giải phóng Tây Tạng ra khỏi sự áp bức của đế quốc xâm lược.

»Xem chừng như người Trung Hoa sắp thực hiện lời hăm dọa trên. Tôi biết rõ nước tôi chỉ có chừng 8500 người vừa quân vừa tướng. Không thể nào đối chọi nổi với một quân đội giải phóng nhân dân vừa chiến thắng trong cuộc đấu tranh giải phóng ở xứ họ.

Hai tháng sau, vào tháng 10, ở Lhasa nhận được tin 80.000 quân giải phóng nhân dân Trung Hoa đã vượt sông Drichu, phía Đông Chamdo: »Cái rìu đã bổ xuống, và không bao lâu, Lhasa sẽ phải thất thủ«.

Khi mùa Đông đến thì tin tức càng xấu hơn. Người dân Tây Tạng đòi hỏi Đức Đạt-lại Lạt-ma phải nắm quyền nhiếp chính ngay[9]. Chính phủ quyết định thỉnh ý thần linh qua Cốt thánh (nechungoracle). Người nhập cốt (kulen) bước đến chỗ Đức Đạt-lại Lạt-ma đang ngồi, đặt một tấm khăn lụa trắng lên đùi của Ngài rồi nói: »Thu-la-bap« có nghĩa: »Thời của ông đã đến!«

Vào lúc 15 tuổi, Đức Đạt-lại Lạt-ma chính thức đăng quang, làm vị lãnh đạo tinh thần của đất nước Tây Tạng. Đó là ngày 17 tháng 11 năm 1950.

Đầu tháng 11, khoảng hai tuần lễ trước ngày nhậm chức, người anh lớn của Đức Đạt-lại Lạt-ma tới Lhasa. »Khi nhìn thấy anh tôi, tôi biết anh đang đau khổ vô cùng. Vì vùng Amdo, nơi chúng tôi sinh ra và nơi có tu viện Kumbun, nằm gần ngay biên giới, đã bị Trung Hoa chiếm đóng rất nhanh... Anh bị giam lỏng trong tu viện như tù nhân. Chính phủ Trung Hoa vừa thuyết phục anh theo đường lối chính trị của họ, vừa tìm cách hạ bệ anh. Họ có dự tính để anh tự do trở về Lhasa, với điều kiện là anh chịu thuyết phục tôi công nhận sự cai trị của Trung Hoa. Nếu tôi từ chối, thì anh phải giết tôi. Anh sẽ được họ tưởng thưởng.«

Để đánh dấu ngày nhiếp chính, Đức Đạt-lại Lạt-ma ban lệnh đại ân xá, tất cả các tù nhân đều được trả tự do. »Tôi hài lòng vì có dịp để làm việc nầy, dù đã có nhiều lần tôi rất ân hận. Khi tôi đưa viễn vọng kính lên nhìn sang sân nhà tù, thấy trống không, chỉ còn các con chó đang sục sạo kiếm thức ăn thừa. Dường như tôi vừa bỏ qua một điều gì đó trong đời«.

Chẳng bao lâu sau khi nhận ra mình đã trở thành người lãnh đạo của sáu triệu dân, Ngài phải đương đầu với một cuộc chiến tranh toàn diện. Việc đầu tiên là Ngài bổ nhiệm hai vị Thủ tướng[10] Tăng sĩ Lobsany Tashi và một cư sĩ, ông Lukhangwa, là một viên chức hành chánh có nhiều kinh nghiệm.

»Thế là xong. Tôi quyết định, sau khi thảo luận trong hội đồng nội các, phải gởi các phái đoàn sang Mỹ, Anh quốc và Népal với hy vọng họ sẽ can thiệp cho tình hình Tây Tạng. Gởi một phái đoàn khác sang Trung Hoa thương thảo, hy vọng họ sẽ rút quân. Các phái đoàn đều lên đường vào cuối năm đó. Sau đó ít lâu, quân đội Trung Hoa tăng cường nhiều ở khu vực phía Đông, nên tôi cùng các viên chức cao cấp quyết định dời xuống miền Nam Tây Tạng. Như thế, khi tình hình xấu đi, chúng tôi có thể dễ dàng vượt biên giới sang tỵ nạn ở Ấn Độ.«

Trong khi đó, hai thủ tướng Lobsany Tashi và Lukhangwa vẫn ở lại Lhasa thay tôi giải quyết mọi việc quốc sự.«

Trong khi Đạt-lại Lạt-ma cư ngụ ở Dromo, giáp ngay biên giới xứ Sikkim, Đức Đạt-lại Lạt-ma nhận được tin tức về các phái đoàn được gởi ra nước ngoài. Chỉ có phái đoàn đi Trung Hoa là đến đích. Các phái đoàn khác đều bị từ chối. »Không thể nào tin được chính phủ Anh quốc bây giờ lại đồng ý với việc Trung Hoa đòi cai trị Tây Tạng«. Đức Đạt-lại Lạt-ma kể lại, Ngài rất buồn khi Hoa Kỳ cũng từ chối sự giúp đỡ: »Tôi nhớ, lúc đó tôi rất buồn, tôi thực sự hiểu rằng chúng tôi sẽ phải đương đầu một mình với chính quyền Trung Hoa to lớn mạnh mẽ.«

Thất vọng vì những biểu lộ khác nhau về tình hình Tây Tạng của Anh và Hoa Kỳ. Đức Đạt-lại Lạt-ma, trong nỗ lực cuối cùng ngăn chặn cuộc chiếm đóng lan rộng của Trung Hoa, đã phái viên thống đốc của tỉnh Kham, tên là Ngabo Ngawany Jigne đến Bắc Kinh để thương thuyết với chính phủ Trung Hoa.

»Tôi hy vọng ông ta sẽ trình bày cho nhà cầm quyền Trung Hoa biết chúng tôi không cần họ ›giải phóng‹, chúng tôi chỉ muốn tiếp tục sống hòa bình bên cạnh nước láng giềng to lớn đó thôi«.

»Thế rồi, một buổi tối, tôi ngồi nghe radio một mình... Một giọng nói chói tai thông báo ›một thỏa ước‹ mười bảy điểm để giải phóng Tây Tạng trong hòa bình vừa được chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ký kết với chính quyền địa phương của Tây Tạng. Hóa ra, phái đoàn do Ngabo dẫn đầu đã bị ép buộc phải ký kết »thỏa ước«. Điều nguy hiểm hơn là, Ngabo không được uỷ quyền đại diện tôi để ký kết bất kỳ văn bản nào, mà chỉ có quyền thương thuyết, vì quốc ấn tôi còn giữ tại Dromo«.

Sau »thỏa ước« đó, Tây Tạng bị biến thành một phần đất dưới sự cai trị của »mẫu quốc« Trung Hoa.

 

THỌ GIỚI VÀ HÀNH ĐẠO

 

Vào mùa hè năm 1953, Đức Đạt-lại Lạt-ma được thọ giới Kālachakra[11] do Ling Rinpoché truyền cho. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong Phật giáo Mật tông Tây Tạng, rất có ý nghĩa đối với hòa bình thế giới. Nhưng không giống với các nghi lễ Mật tông khác, lễ nầy được cử hành trước đại chúng. Phải qua thời gian từ một tuần đến 10 ngày để chuẩn bị và hành lễ suốt ba ngày liền. Một trong những nghi quỹ là phải dùng từng hạt cát có nhiều màu để làm một đồ hình mạn-đà-la[12] rất lớn, trình bày trên một mặt phẳng, có biểu tượng không gian ba chiều... Lần đầu khi thấy một trong những đồ hình mạn-đà-la nầy, tôi như bị ngây ngất vì đồ hình đẹp không thể tưởng tượng được.

Sau lễ Kālachakra, Đức Đạt-lại Lạt-ma nhập thất một tháng... Tôi nhớ, đó là một kinh nghiệm rất cảm động đối với tôi lẫn Ling Rinpoché. Tôi đặc biệt may mắn được tham gia vào một truyền thống từ ngàn xưa, mà bao thế hệ các vị đạo sư đã chứng ngộ tham dự. Khi tụng đến câu kinh cuối cùng, tôi cảm động đến nghẹn lời. Điều này, về sau tôi thấy là một điềm lành, dù lúc đó tôi không nghĩ gì cả.

Cũng trong năm 1953, vào Tết Monlam, Đức Đạt-lại Lạt-ma được thọ giới tỷ-khưu trong một đại giới đàn, trước tượng Bồ-tát  Quán Thế Âm, tại tu viện Jokhang. Đây là một buổi lễ rất trang nghiêm và cảm động do Ling Rinpoché làm đạo sư truyền giới.

Mùa hè năm sau, 1954 do thỉnh nguyện của một số Phật tử, Đức Đạt-lại Lạt-ma truyền giới Kālachakra lần đầu tiên trong đời. Lúc đó Đức Đạt-lại Lạt-ma vừa tròn 18 tuổi.

... Tôi vẫn nhớ đạo Phật dạy tôi, một người gọi là kẻ thù có khi còn quý hơn bạn. Vì kẻ thù dạy ta một số điều mà bạn không dạy, như sự nhẫn nhịn. Tôi cũng tin tưởng một cách chắc chắn là, dù tình trạng xấu đến đâu, thì rồi nó cũng sẽ khá hơn. Cuối cùng, ý hướng bẩm sinh của loài người là tìm sự thật, sự công bằng và hiểu biết sẽ thắng lướt ngu si và tuyệt vọng...[13].

Khi nhận biết những đau khổ đó mênh mông như biển, tôi tuyên bố sẽ thi kỳ chót tại tu viện vào dịp lễ Monlam năm 1959.

... cuối mùa hè năm 1958, tôi đến tu viện Drepung, sau đó đến tu viện Serra để bắt đầu kỳ thi tốt nghiệp. Tôi sẽ phải tranh luận nhiều ngày với các học giả thông thái của hai trung tâm tu học nầy. Ngày thứ nhất tại Drepung, hàng mấy ngàn tăng sĩ tụng kinh trong đại sảnh. Họ tụng kinh một cách nhịp nhàng, xưng tán chư Phật, Bồ Tát, và Tổ sư. Tôi rơi lệ vì cảm động.

Đến năm 1957, tình hình càng trở nên bi đát, Ngài từ bỏ Lhasa, đào thoát sang Ấn Độ vào ngày 17 tháng 3 trong bí mật vì sợ bị giữ lại.

... Sau khi gạt lệ chia tay mọi người, tôi ra đi trên lưng con bò dzomo lớn. Tôi quá yếu, không thể đi ngựa được. Tôi rời quê hương bằng phương tiện khiêm nhường ấy...

 

LƯU VONG

 

Ngài và 100.000 người dân Tây Tạng đến Dharamsala vào tháng 5 năm 1960. Đó là một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ, cách thủ đô New Delhi chừng một ngày đường, cách biên giới Ấn – Pakistan khoảng 100 dặm

Tại đây Ngài thành lập chính phủ lưu vong để vừa điều phối công việc vừa hướng dẫn đời sống tâm linh của dân Tây Tạng.

Từ năm 1967, Ngài bắt đầu rời khỏi Ấn Độ để viếng thăm Nhật Bản, Thái Lan, rồi đi khắp nơi trên thế giới để truyền bá Phật pháp và vận động hòa bình cho nhân dân Tây Tạng.

Năm 1973, Ngài qua châu Âu, đến Rome, tiếp xúc với Giáo Hoàng Phao Lồ VI rồi đến các nước Đan Mạch, Thụy Điển, Hòa Lan, Anh quốc... Ngài được đón tiếp nồng hậu trong tinh thần Phật giáo đang được các nước Tây phương lưu tâm.

Tôi lúc nào cũng hoan hỉ nếu có người được an lạc nhờ thực hành Phật pháp. Nhưng khi việc thực hành Phật pháp khiến họ phải từ bỏ tôn giáo của mình, thì tôi luôn luôn khuyên họ phải thận trọng. Thay đổi tín ngưỡng sẽ có thể gây xung đột nội tâm và hầu như lúc nào cũng rất khó khăn.

 

THỜI KHÓA CÔNG PHU TRONG NGÀY

 

Ngài thực hành hạnh nguyện Bồ-tát. Theo tư tưởng Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát  là người nguyện sẽ thành tựu sự giác ngộ tối thượng, hy sinh chính mình để giúp tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau. Vậy nên công phu hành trì của ngày được ghi lại như sau:

»Tôi dùng năm giờ rưỡi trong một ngày để tụng kinh, niệm Phật, thiền quán và nghiên cứu. Ngoài ra, khi nào rảnh rỗi là tôi tụng niệm, chẳng hạn vào giữa bữa ăn và khi du hành. Có 3 lý do chính để tụng niệm khi du hành: thứ nhất, để hoàn tất bổn phận hàng ngày của một tăng sĩ. Thứ hai, để dùng thời giờ một cách hữu ích. Thứ ba, để bớt sợ hãi! Đối với hành giả Mật tông, thì việc hành trì ngay trong giấc ngủ hay lúc nằm mơ là các chuẩn bị hệ trọng cho lúc qua đời.

»... Giờ hành trì tốt nhất đối với tôi là sáng sớm... Tôi thức dậy vào lúc 4 giờ sáng... Tôi tụng các bài kệ mở đầu một ngày, sau đó tôi đảnh lễ chư Phật trong nửa giờ. Sau đó tôi ra ngoài đi bộ, vừa đi vừa tụng các bài kệ...

»Từ 5 giờ 45 đến 8 giờ, tôi ngồi thiền, nghỉ 1 lát vào lúc 6 giờ 30 để nghe bản tin của đài BBC. Từ 8 giờ đến 12 giờ, tôi nghiên cứu các tư tưởng triết học Phật giáo. Từ trưa đến lúc ăn cơm 12 giờ 30, tôi đọc công văn, báo chí. Từ 1 giờ đến 5 giờ, làm việc ở văn phòng chính phủ và tiếp khách. Nghỉ ngơi và dùng trà vào lúc 6 giờ. Từ 8 giờ 30 tụng kinh rồi nghỉ ngơi vào lúc 9 giờ 00.

»Thời khóa hàng ngày chỉ thay đổi khi an cư. Trong dịp đó, ngoài công phu hành trì thường nhật, tôi còn thiền quán các phép đặc biệt...«

Năm 1989, Đạt-lại Lạt-ma Tenzin Gyatso nhận được giải Nobel Hòa bình do nỗ lực cống hiến cho phong trào bất bạo động và nhân quyền trên thế giới.

Đến nay Ngài vẫn còn tu tập và làm việc tại Dharamsala. Có rất nhiều ấn phẩm ghi lại các cuộc phỏng vấn, bài phát biểu, bài viết của Ngài được dịch từ tiếng Tây Tạng sang tiếng Anh, như:

— Tự do trong lưu đày (Freedom in exile) 1992

— The World of Tibetan Buddhism 1994

— The Meaning of Life from a Buddhist Perspective 1991

— My people, my land

— The Dalai Lama at Harvard, 1988 (Lectures on the Buddhist path to peace)

— The Way to Freedom, 1997


PHẦN II : PHỎNG VẤN ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA THỨ 14 TENZIN GYATSO

            KHI CÁNH CHIM LƯU ĐÀY BAY CAO

L.N.Đ:

 Cuộc phỏng vấn nầy được thực hiện bởi Mike Hellbach, do Sherpa Tulku phiên dịch tại Pháp hội lần thứ hai, vào ngày 5-8 tháng 11 năm 1982 tại New Delhi, Ấn Độ. Nội dung nầy đã được ấn hành lần đầu tiên bởi Trung tâm Tuśita Mahāyāna Meditation ở New Delhi, 1982.

 

Hỏi: Kính thưa Ngài, ngay ở Dharamsala và cũng như từ những cuộc viếng thăm gần đây, Ngài đã tạo được những mối quan hệ mật thiết đối với người phương Tây, là giới đang quan tâm sâu sắc đến truyền thống tâm linh của Phật giáo Tây Tạng. Bất luận khi nào Phật pháp được hấp thụ vào một xã hội mới, thì nó luôn luôn được phát triển, định hình để có ảnh hưởng lớn lao đến tâm thức con người. Điều gì nên và điều gì không nên phát triển và định hình, riêng trong phạm trù Phật pháp ở phương Tây?

Đạt-lại Lạt-ma: Cơ bản nguyên lý tu tập Phật pháp không bao giờ thay đổi. Chẳng hạn, nền tảng của Bồ-đề tâm[14]


 (thể hiện lòng vị tha cho đến khi đạt được quả vị Phật như một phương tiện làm lợi ích cho tất cả chúng sinh), và Tính không[15] (bản thể tối thượng của tâm và pháp giới) đều luôn luôn cần phải được thông qua  tu tập. Tuy nhiên, để đạt đến tinh yếu của các pháp tu nầy, chi tiết thứ yếu – như trình tự của phương pháp đang áp dụng, những khía cạnh chi tiết của việc quán chiếu mà người ta đang ứng dụng – sẽ phải được định hình rõ để xứng hợp với các dạng tinh thần khác nhau mà con người đã được thọ bẩm.

Có nhiều sự khác nhau trong phương pháp thực hành của Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Tây Tạng cổ đại, nhưng tinh yếu của Bồ-đề tâm, cốt tủy của Phật giáo Đại thừa thì đồng nhất. Sự khác nhau chỉ là bằng cách nào để Bồ-đề tâm được biểu hiện mà thôi. Ngay cả đối với Ấn Độ, cũng đã có nhiều phương pháp thể hiện. Chẳng hạn phương pháp »Chuyển hóa ngã ái bằng cách yêu thương mọi người« được Tịch Thiên[16] dạy trong tác phẩm quan trọng của Ngài là Nhập Bồ-đề hành luận (bodhisattvacaryāvatāra) và »Phương pháp lục nhân nhất quả« (the method of six causes to on effect) được A-đề-sa[17] dạy trong tác phẩm Bồ-đề đạo đăng – (Bodhi­pa­thapradīpa). Những kỹ thuật khác nhau nầy nhắm đến sự thích hợp cho những căn cơ khác nhau, vừa nhắm đến sự phát triển Bồ-đề tâm giống nhau, và toát yếu phương pháp thực hành lục độ[18].

Thế nên, những chi tiết của các phương pháp tu tập đa dạng có thể có sự khác nhau để phù hợp với tâm hồn của người Tây phương, và không những chỉ phù hợp với tâm hồn người Tây phương nói chung mà còn phải thích hợp với từng căn cơ cá biệt của người tu tập.

Hỏi: Tất cả các bậc Đạo sư lớn đều nhấn mạnh tầm quan trọng phải có một đạo sư tâm linh để giúp người tu tránh được nhầm lẫn về mặt giáo pháp và cả về mặt kinh nghiệm thiền quán. Không may, hiện nay có rất ít chân sư mà lại có rất nhiều người muốn tu học. Những người nầy có nên đọc một cẩm nang về thiền rồi theo đó tu tập là tốt hơn chăng?

Đạt-lại Lạt-ma: Điều nầy có thể được. Đi sâu vào một pháp thiền nào đó cao hơn thì rất nguy hiểm nếu không được một vị chân sư hướng dẫn, nhưng với pháp thiền quán đơn giản, như quán chiếu sự vô thường, lòng từ và bi hay nhằm phát huy định lực thì rất tốt.

Khi chưa gặp được chân sư, tốt hơn hết là mình nên tự giới hạn trong các pháp thiền quán đơn giản.

Hỏi: Nhiều người muốn dấn thân vào việc tu tập nhưng cảm thấy ảnh hưởng đến thời gian và công việc mưu sinh cho gia đình... Liệu có thể chuyển hóa sự bận tâm nầy vào trong nguồn suối tâm linh?

Đạt-lại Lạt-ma: Cách xử lý chính đáng cần phải thể hiện là lòng yêu thương và Bồ-đề tâm. Rất khó giải thích Bồ-đề tâm một cách vắn tắt mà vẫn chính xác. Có lẽ đó là động lực muốn cứu giúp chính mình bằng cách cứu giúp những người khác. Phong cách xử sự độc đáo nầy được gọi là Bồ-đề tâm, là cốt tủy của Phật giáo Đại thừa.

Để có được những biểu hiện của đời sống tâm linh thường nhật, lòng từ bi phải được phối hợp với mọi hoạt động trong đời sống hàng ngày. Có một số thiền pháp không thể thực hành khi các bạn đang làm việc, chẳng hạn khi đang làm trong xí nghiệp, nhưng thực tập từ bi quán thì có thể được. Nếu các bạn nỗ lực một cách chân thành, thì Phật pháp luôn luôn được thể hiện.

Hỏi: Phật pháp mà người Tây Tạng tu tập liên quan nhiều đến pháp thiền quán về vô số biểu tượng và thần linh. Ngài có thấy từ điều nầy sẽ phát sinh một số vấn đề sẽ phải đối chiếu như quan niệm nhất thần giáo của người Tây phương?

Đạt-lại Lạt-ma: Điều nầy tùy thuộc vào đặc tính của từng cá nhân. Một số người rất thích những vị thần nầy... (cười). Mỗi người phải tự chiêm nghiệm giáo pháp nào khế hợp với mình nhất.

Hỏi: Một số người cho rằng nên có sự thay đổi những biểu tượng và thần linh nầy để thích nghi với truyền thống văn hóa của riêng họ.

Đạt-lại Lạt-ma: Điều nầy không nên. Nếu các bạn đã hành trì theo Phật pháp, thì những vị thần biểu tượng cho thiền định, chắc hẳn phải có ấn tượng mạnh mẽ liên hệ với giáo lý Phật giáo Kim cang thừa[19]. Họ không thể lập ra một cách tùy tiện, cũng không thể pha trộn với những pháp tu khác. Điều tốt nhất là hành trì một cách tinh tấn pháp môn thích hợp nhất đối với các bạn. Nếu các bạn đã chọn Phật pháp, thì hãy thực hành một cách thuần nhất. Rồi các bạn sẽ đạt được kết quả, thì đó là điều rất tốt. Còn nếu các bạn pha trộn giáo lý nầy với truyền thống khác trong khi tu tập, thì kết quả thế nào, các bạn không nên đổ lỗi cho Phật pháp.

Trong Phật giáo, vị có năng lực thiền định tối cao nhất là Đức Phật. Nếu các bạn thích những truyền thống khác, thì hãy thử. Còn nếu không, đơn giản là hãy làm Phật.

Hỏi: Có phải »sự ưa thích« nầy như là một thiên hướng của nghiệp lực?

Đạt-lại Lạt-ma: Để hiểu rõ về nghiệp, phải biết rõ nhiều điều. Có nhiều điều phải hiểu về nghiệp lực. Đạo Phật nói về biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, thường kết hợp chung với ý thức, hoàn cảnh và đó là cách tạo nên nghiệp lực của con người. Đây là những yếu tố chính quyết định con đường mà ta nên theo.

Hỏi: Nhiều người Tây phương dịch kinh từ tiếng Tây Tạng nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh bên ngoài hơn là những vấn đề nội tại của lĩnh vực huyền bí tâm linh. Làm thế nào để tránh được khuynh hướng nầy trong văn học Phật giáo Tây Tạng, khi kinh văn Mật tông lại được phiên dịch trực tiếp từ tiếng Phạn (san­skrit) sang tiếng Tây Tạng?

Đạt-lại Lạt-ma: Dường như điều nầy không phải là một vấn đề nổi cộm quá mức ở Tây Tạng. Tuy nhiên, chắc chắn đã có nhiều người đã không vận dụng tương ứng giáo pháp trong phong thái tinh thần. Trên thực tế, bất kỳ hành giả Mật tông nào vận dụng phương pháp nầy vào những mục đích như chống phá kẻ thù thì đó không phải hành giả tâm linh chân chính. Dù muốn hay không, một người thực sự là hành giả tâm linh phải được xác định bởi lợi lạc lâu dài do sự tu tập của họ mang lại, không phải do ở phương pháp hành giả ấy sử dụng.

Phật giáo Kim cương thừa  truyền dạy Mật chú để giúp cho chúng sinh đạt được giác ngộ, chứ không cung cấp cho họ một dụng cụ để hãm hại người khác. Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng Mật tông là một giáo lý bí mật. Nếu giáo lý nầy ở trong tay của những ai không có Bồ-đề tâm và không có những phẩm tính khác thì có thể rất nguy hiểm và chẳng có lợi ích gì cho ai cả.

Trong một luận giải về »Văn-thù-sư-lợi nhất thiết chú[20], có một mẩu chuyện về một người bà-la-môn tên là Kanaka, là một hành giả tu luyện Diệm ma thần chú[21]. Mặc dù ông ta là một hành giả với định lực thiền quán rất mạnh mẽ, nhưng ông ta vẫn đọa vào địa ngục. Khi thực hành, ông ta mong sẽ đạt đến sự giác ngộ, nhưng ngược lại, ông đã bị tai họa. Trong một luận giải khác, Bí mật tập hội tantra[22] cũng nhấn mạnh vào điểm nầy.

Bất cứ những sự kiện nào xảy ra ở Tây Tạng theo ý nghĩa nầy đều không tốt và dù bất kỳ điều gì mọi người khác ưa thích cũng không đúng.

Hành giả Mật tông chân chính phải tự hứa là không bao giờ thi triển bất kỳ một pháp thuật nào mà họ có được. Theo giới luật của người xuất gia, dù là một A-la-hán, cũng không được tiết lộ cho người khác quả vị mình đã chứng đắc. Trong Mật thừa cũng như vậy, nếu hành giả chỉ vì tiểu tiết mà thi triển pháp thuật, dù hành giả ấy có đạt được một phẩm tính nào đó, thì nền tảng tu tập của hành giả ấy sẽ bị thoái hóa dần.

Hỏi: Trong tất cả các phương pháp tu tập của Phật giáo, Mật tông đã thu hút được người Tây phương nhiều nhất, đó không còn là những pháp thực hành mật tông sơ cơ nữa, mà rất cao cấp. Pháp thực tập »thành tựu vị«[23] là pháp thiền quán về những luân xa[24] và đạo quản[25] tương giao với nhau. Những pháp được ưa thích nầy có điều gì lợi và bất lợi, và pháp thực hành Mật tông sơ cơ là gì?

Đạt-lại Lạt-ma: Rất hay khi người Tây phương có niềm say mê với pháp tu »Thành tựu vị«. Tuy nhiên, áp dụng pháp tu nầy sẽ có ít hiệu quả nếu trước hết không có được thành quả trong khi thực hành theo pháp »tạo tác vị«[26] trong đó, cảnh giới thiền định được phát huy và oai nghi của hành giả trong nghi quỹ mật chú đã chín muồi qua các phương pháp thiền quán về sự huyền diệu của hệ thống mạn-đà-la. Hơn thế nữa, điều quan tâm này nên được khởi phát từ nền tảng là động cơ muốn làm lợi ích cho mọi chúng sinh. Đó là điều tiên quyết khó khăn nhất. Nếu sự quan tâm đến pháp tu nầy chỉ phát xuất từ sự hiếu kỳ tầm thường thì sẽ thiếu đi nền tảng phát tâm chân chính.

Thiền quán về »Thành tựu vị« trong Mật thừa có thể rất nguy hiểm, có thể dẫn đến bệnh tật hoặc tử vong cho những hành giả yếu kém căn cơ. Y dược không thể nào chữa trị được bệnh hoạn phát sinh do tu tập pháp nầy không đúng, chỉ có chất hóa giải duy nhất là áp dụng chính xác một pháp thiền quán đặc biệt.

Hỏi: Xin Ngài giải thích vắn tắt điều khác nhau giữa Mật thừa Ấn Độ giáo[27] và Mật thừa Phật giáo

Đạt-lại Lạt-ma: Rất khó để hiểu được toàn vẹn sự khác nhau ấy. Tuy nhiên, nói vắn tắt, có sự khác biệt về cả hai phương diện thực hành và triết lý.

Về mặt thực hành, Mật thừa Phật giáo căn cứ trên động lực là Bồ-đề tâm (bodhicitta) trong khi Mật thừa Ấn Độ giáo lại thiếu chất liệu đó.

Về phương diện triết lý, Mật thừa Phật giáo lập nền tảng trên lý thuyết vô ngã (anātman), trong khi Ấn Độ giáo căn cứ trên lý thuyết về một bản ngã tồn tại thực sự[28]. Những bài tập luyện Du-già (yoga) khác, như luân xa (cakra) và đạo quản (nāḍī), thì có nhiều điểm tương đồng, nhưng điểm khác nhau rất vi tế.

Hỏi: Vì ngã ái và ngã chấp là những nghiệp lực mà ta đã tạo nên từ vô thỉ kiếp, khi tiến hành một lộ trình tu tập tâm linh không cần phải phát triển một bản ngã tiêu cực, liệu có thể dẫn đến tà kiến ngoại đạo không?

Đạt-lại Lạt-ma: Để tránh điều ấy, cần thiết phải biết chắc rằng pháp bạn đang thực hành thực sự là một pháp môn chân chính. Nếu được như vậy, dù tập quán quen thuộc của bản ngã quá sâu nặng, thì ảnh hưởng của nó cũng không lan tỏa đến đâu. Còn nếu các bạn học hỏi giáo pháp mà không ứng dụng, thì những hoạt động tinh thần của bạn có thể được gọi là dễ dàng trở nên hướng đến mục tiêu danh và lợi trong tình trạng chỉ có tự ngã và những tính xấu như nóng giận, chấp trước và bè phái... phát triển. Tuy nhiên, mỗi ý nghĩa của giáo pháp mà các bạn lĩnh hội đều được dùng để đào luyện tâm linh, nên mỗi lời pháp đều mang đến lợi lạc mà thôi, bất luận bạn lĩnh hội được nhiều ít. Hiểu được càng nhiều, bạn sẽ không bao giờ có khuynh hướng phát triển tự ngã.

Điểm quan trọng nhất là lúc sơ cơ, phải hết sức nghiêm túc trong động cơ tiếp nhận giáo lý để hành trì. Nếu tinh thần nầy mạnh mẽ và chu đáo, sẽ hạn chế được nguy hiểm.

Hỏi: Đức Phật Thích-ca Mâu-ni có dạy trong kinh rằng tà kiến sẽ tạo nên nghiệp còn nặng hơn cả giết ngàn vị Phật. Tại sao như thế?

Đạt-lại Lạt-ma: Mục đích tối hậu của chư Phật là dạy cho chúng sinh phương cách giải trừ trạng thái mê muội của tâm thức và cả sự khổ đau. Đây cũng là nguyên do mà chư Phật đã tu tập và đạt được giác ngộ. Chư Phật chỉ có một động cơ duy nhất là làm lợi ích cho mọi chúng sinh, hoàn thiệân thông qua giáo pháp của chư Phật, thế nên xem thường bất kỳ giáo pháp nào của chư Phật được coi là còn tệ hơn cả phỉ báng chư Phật. Điều nầy còn hàm ý khi đã theo một giáo pháp nầy rồi thì không nên coi thường các truyền thống tu tập khác.

Hơn thế nữa, chính Đức Phật rất tôn trọng các truyền thống của giáo lý khác. Thế nên đối với chúng ta, không tôn trọng các truyền thống khác cũng có nghĩa là phỉ báng chư Phật.

Có nhiều phương pháp để chiêm nghiệm các trích dẫn từ kinh điển. Điều gì là ước nguyện bản hoài của chư Phật? Chỉ là truyền dạy giáo pháp. Và đó cũng chính là giáo pháp đã đưa chư Phật đến nơi chứng ngộ. Ngay trong Phật pháp, chúng ta không chấp nhận lý thuyết có một Đấng sáng tạo (creator), mà xem mọi pháp đều tùy thuộc vào chính mình. Chư Phật không thể trực tiếp thành tựu ước nguyện cứu giúp chúng sinh mà các Ngài chỉ có thể thực hiện được bản nguyện ấy thông qua giáo pháp. Chúng ta có thể xem đó là một sự thiệt thòi. Do vậy, giáo pháp chư Phật ban cho chúng sinh quý báu và quan trọng hơn chính các Ngài rất nhiều. Vì căn cơ và thú hướng đa dạng của nhiều loài hữu tình khiến chư Phật phải dùng nhiều phương pháp thực hành và triết lý khác nhau để truyền dạy. Nếu chúng ta tu tập theo giáo pháp nầy rồi chê bai các giáo pháp khác, đó là chúng ta đã phỉ báng pháp cũng như phỉ báng chư Phật vậy.

Hỏi: Đức Đạt-lại Lạt-ma có nghĩ rằng các tôn giáo khác nhau trên thế giới đều lập nên bởi sự lưu xuất từ hiện thân của chư Phật để khế hợp với tâm thức của từng căn cơ và cộng đồng riêng biệt hay không?

Đạt-lại Lạt-ma: Điều nầy rất có thể. Người sáng lập một tôn giáo nào đó có thể là một hóa thân của một đức Phật đặc biệt nào đó. Do vậy, rất hợp lý khi chúng ta nhìn các tôn giáo khác với lòng kính trọng sâu sắc.

Hỏi: Thế tại sao các tôn giáo nầy lại thường chống đối nhau?

Đạt-lại Lạt-ma: Đây là một vấn đề khác, vì một tín đồ chân chính không bao giờ lập cước trên sự bàn cãi hoặc tranh luận cả. Thực tế đã có cái gọi là chiến tranh tôn giáo. Tuy nhiên, những người dính líu vào cuộc chiến tranh nầy không phải là những người tu tập mà họ chỉ lợi dụng tôn giáo như một thế lực. Động cơ của họ thực tế là ích kỷ, không phải là tâm linh.

Chiến tranh tôn giáo không phải là vấn đề mâu thuẫn giữa các tôn giáo chút nào cả. Hãy để qua một bên sự khác biệt của giáo lý giữa các tôn giáo, có rất nhiều điều có vẻ như là mâu thuẫn trong Phật pháp. Chẳng hạn, đối với những người có căn cơ nào đó, Đức Phật dạy rằng không có tự ngã tồn tại chân thực, trong khi đối với những căn cơ khác, Đức Phật lại bảo rằng có (một tự ngã tồn tại chân thực). Thế nên cái gì là mục đích lời dạy của Đức Phật? Đó chẳng phải là khoa trương, cũng chẳng biểu lộ tầm hiểu biết của Ngài, mà chỉ để làm lợi ích cho chúng sinh. Cũng thế, Đức Phật không chỉ quan tâm đến một lớp hậu duệ, mà quan tâm đến vô số môn đệ cùng các hạng người khác nhau. Do vậy, giáo pháp của Đức Phật chắc chắn phải có nhiều từng bậc ý nghĩa khác nhau, nên thường thấy, một số giáo pháp dường như mâu thuẫn nhau. Biết vậy, nên ta hiểu các cuộc tranh cãi, bài bác giữa các tôn giáo với nhau sẽ không bao giờ có được một lý do chân chính.

Hỏi: Đức Lạt-ma Tông-khách-ba,[29] người sáng lập tông phái Cách-lỗ[30] đã tham học với hơn 45 bậc đạo sư biểu tượng cho tất cả truyền thừa Phật giáo Tây Tạng. Phải chăng điều nầy có nghĩa là qua tông phái Cách-lỗ, chúng ta có thể tìm thấy tất cả các pháp tu của các tông phái Phật giáo Tây Tạng? Nếu không, điều gì là chuẩn mực trong việc truyền thừa?

Đạt-lại Lạt-ma: Về cơ bản, những gì Lạt-ma Tông-khách-ba đã làm là chọn những hệ truyền thừa giá trị nhất trong số các tông phái đang được mến mộ. Chẳng hạn, từ tông phái Ca-nhĩ-cư[31] Ngài chọn »Bí mật tập hội tan tra«[32] và Na-rô lục pháp[33], từ phái Ninh-mã[34], Ngài chọn dòng truyền thừa bởi Lạt-ma Lhodak Nam-kha Gyal-tzen, từ phái Tát-ca[35], ngài chọn sự truyền thừa của Hô Kim Cương[36] và Du-già Kim Cương[37]...

Một đặc điểm nổi bật trong giáo lý của Rinpoche Je (Tông-khách-ba) là những điều ngài đối chiếu được giải thích trong các bộ luận của Ngài, như trong »Luận giải về Bí mật tập hội« với nhiều hệ thống giáo lý khác nhau, như:

- Lượng thích học[38]

- Giới luật học[39]

- Trung quán luận[40]

Cũng vậy, Ngài trình bày vắn tắt các luận giải về những điểm trọng yếu và chi tiết hóa về các luận giải ấy nên rất khó hiểu.

Hỏi: Có đặc điểm chung nhất nào về tông phái Cách-lỗ chăng?

Đạt-lại Lạt-ma: Không, tôi chỉ nói về Ngài Tông-khách-ba, trên phương diện Ngài là vị sáng lập tông phái Cách-lỗ, qua 18 luận giải Ngài sáng tác để lập thành tông phái của mình. Còn những giải thích từ các môn đệ của Ngài chúng tôi đều không được biết.

Trường hợp tương tự cũng tồn tại giữa các vị sáng lập và các môn đệ trong bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng[41]. Không có sự khác biệt trong chiều sâu thẳm của giáo lý trong bốn tông phái kể trên, nhưng trong giải thích của các nhóm môn đệ từ bốn tông phái đó thì có những tranh luận không cùng tận.

Vị Ban Thiền Lạt-ma thứ nhất[42] có viết: »Dù những tông phái có tên gọi khác nhau về mặt lý thuyết, như Đại Thành Tựu (the great completion), Đại Thủ Ấn (the great seal), Trung Đạo (themiddle way), nhưng khi một hành giả có kinh nghiệm, đạt được trí tuệ thâm hậu về tri thức kinh luận khảo sát các pháp môn ấy, hành giả sẽ thấy chúng như một thực thể thống nhất«

Hỏi: Trong kinh luận thường nói đến Tam Thừa. Tại sao Đức Phật dạy có ba thừa như thế?

Đạt-lại Lạt-ma: Mặc dù kinh điển nói nhiều đến ba thừa: Thanh văn thừa (hearer's vehicle), Độc giác thừa (solitary realizer's vehicle) và Bồ tát thừa (bodhisattva vehicle) – hai thừa trước được xem là một, là Tiểu thừa (hinayana). Còn Bồ tát thừa, hay còn gọi là Đại thừa (mahayana), được phân làm hai là »Nhân thừa thực hành Lục độ« và »Quả thừa thực hành Mật chú«. Nên ở Tây Tạng, chúng ta thường đề cập đến hai thừa, Tiểu thừa và Đại thừa.

Có nhiều cách nhìn khác nhau về hai thừa nầy. Trước hết, chúng ta xem xét từ quan điểm thực hành

Rất quan trọng phải có một nền tảng khách quan khi khảo sát về giới luật (vinaya), chẳng hạn như một loại giới luật dành cho giới xuất gia gồm Tăng, Ni, và loại giới dành cho cư sĩ tại gia.

Đối với Tăng Ni, ba pháp thực hành căn bản phải tuân theo là: an cư trong mùa mưa, sám hối, bố tát nửa tháng một lần và cử hành lễ Tự tứ vào cuối mùa an cư. Đây là những pháp thực hành theo giới luật Thanh văn.

Nữa, chư Tăng Ni cần phải thực hành lòng từ bi, phát Bồ-đề tâm và tu tập Lục độ, đó là pháp tu Nhân địa của Đại thừa.

Một người có thể tu tập các pháp nầy để đạt được giác ngộ, họ không được cản trở người khác cũng như không được gây ra sự cản trở đối với những người phát tâm tu tập. Do vậy, hành giả có thể thực hành tất cả các pháp môn mà không hề mâu thuẫn. Với sự tiếp cận căn bản giáo lý nầy, sẽ không có sự phê phán giữa Tiểu thừa với Đại thừa, Đại thừa và Tiểu thừa, Kinh thừa (sūtra school) phê phán Mật thừa... Đó là sự liên quan giữa các thừa từ quan điểm thực hành.

Từ quan điểm triết học, Phật pháp có thể chia thành bốn trường phái:

1. Tỳ-bà-sa bộ (vaibhāika)

2. Kinh lượng bộ (sautrāntrika)

3. Du-già hành tông hoặc Duy thức tông (yogācāra)

4. Trung quán tông (madhyamaka)

Tất cả các trường phái nầy đều xuất phát từ Ấn Độ. Nhìn từ một phía, những trường phái nầy như thể không công nhận nhau. Tuy nhiên, chủ đích của các giáo lý như thể chống trái nhau ấy lại nằm trong khuôn khổ của đạo Phật. Triết học Phật giáo nhằm cung ứng phương cách tiếp cận dần dần với những tư tưởng siêu tuyệt hơn, dẫn đến tầm mức cao cả hơn và cuối cùng đưa con người đạt được trí tuệ siêu việt. Do vậy không có trường phái nào trong bốn trường phái trên bị loại trừ.

Ở Tây Tạng, có bốn tông phái chính: Ninh-mã, Tát-ca, Ca-nhĩ-cư và Cách-lỗ. Từ quan điểm thực hành, các tông phái ấy đều là Đại thừa, thực hành theo sự phối hợp thống nhất của Kinh thừa (sūtrayāna) và Mật thừa (tantrayāna), như đã được mô tả ở trên.

Từ quan điểm triết học, bốn tông phái trên đều theo Trung quán luận (tu tập để khế hợp với bình diện triết học phát triển như đã nói ở trên). Các tông phái ấy không có gì khác biệt giữa các quan điểm thực hành và triết học. Sự khác biệt là do ở thời điểm các tông phái ấy du nhập vào Tây Tạng, và do sự truyền thừa của các vị Lạt-ma khi các ngài lập tông. Khác biệt  là ở sự nhấn mạnh vào những phương diện thực hành và thuật ngữ đa dạng mà mỗi giáo lý được trao truyền. Tất cả bốn tông phái đều dẫn đến Phật quả. Do vậy, tuyệt đối sai lầm khi nói tông phái nầy siêu hơn tông phái kia hoặc phê phán lẫn nhau.

Hỏi: Xin Ngài vui lòng giải thích về sự khác nhau giữa việc tụng kinh trong đạo Phật–chẳng hạn như–với cầu nguyện của người Thiên Chúa giáo. Cũng thế, có khác biệt gì giữa việc thờ phượng Thiên chúa và thờ phượng chư Phật, chư Bồ-tát?

Đạt-lại Lạt-ma: Hầu hết những lời kinh chúng ta tụng đều mang ý nghĩa bừng chiếu từ nội tâm. Tụng kinh không phải để van xin hay cầu nguyện lòng từ bi của chư Phật mà đó là một phương pháp của thiền quán; còn nội dung của lời kinh là đối tượng của thiền quán.

Tuy nhiên, cũng có một dạng tụng kinh là để cầu nguyện đến tâm từ bi của chư Phật. Sự khác nhau giữa việc tụng kinh và thờ phượng Thượng đế tùy thuộc vào động cơ và nhận thức về việc mình đang làm. Bất kỳ lúc nào một người Phật tử theo truyền thống Đại thừa phát tâm cúng dường hay tụng kinh cầu nguyện đến chư Phật, Bồ-tát, là họ đều ngưỡng mong sự dẫn dắt và trợ lực cho họ đạt được giác ngộ vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh.

Hỏi: Để kết thúc, xin Đức Đạt-lại Lạt-ma cho người Phật tử phương Tây những lời khuyên thiết thực nhất.

Đạt-lại Lạt-ma: Điều quan trọng là cần suy nghĩ kỹ trước khi theo một truyền thống tâm linh nào đó. Một khi các bạn đã bước vào rồi, thì hãy kiên trì thực hành. Đừng như người đi nếm thức ăn ở khắp các nhà hàng mà không bao giờ thực sự có được một bữa no. Hãy suy nghĩ kỹ trước khi chọn lựa một pháp tu, rồi theo nó suốt đời. Theo cách đó, bạn có được kết quả dù chỉ dành một ít thời gian thực tập mỗi ngày. Thay vì vậy, nếu các bạn có nỗ lực đi theo tất cả những con đường khác nhau, các bạn cũng không đến được đâu cả.

Cũng vậy, kiên nhẫn thực hành những điều cần thiết. Trong thời đại cơ giới nầy, mọi thứ dường như đều là tự động. Các bạn có thể nghĩ rằng Phật pháp cũng như thế – chỉ cần bật nút lên là các bạn có thể được chứng ngộ. Hãy kiên nhẫn! Sự bừng chiếu nội tâm chỉ cần ở thời gian.

Các bạn nên duy trì nỗ lực thường xuyên tu tập. Thật vô ích khi hết sức nhọc công vài tháng, rồi lơ là, rồi lại nỗ lực hết sức. Tốt nhất là tự ép mình vào một phương pháp thường xuyên và đều đặn. Cách nầy rất quan trọng.

Nếu các bạn đã hiến mình cho Phật pháp, thì các bạn không nên xem mình như là một người »Phật tử vĩ đại« rồi tức khắc bắt tay vào những việc làm quái dị. Ngạn ngữ Tây Tạng có câu: »Hãy chuyển hóa tâm mình, nhưng để mặc thân thể bình thường«.

Trong tất cả tông phái Phật giáo, đặc biệt là trong Phật giáo Đại thừa, việc làm lợi ích cho người khác rất được chú trọng. Trong lĩnh vực nầy, ngài Tịch Thiên có dạy trong »Nhập Bồ-đề hành luận«[43] rằng:

»Trước hết chiêm nghiệm những gì được mọi người (trong xã hội mình đang sống) chấp nhận và điều gì họ không chấp nhận, rồi tránh những điều mà họ không chấp nhận«.

Dĩ nhiên, các bạn phải xem xét những điều chấp nhận và không chấp nhận là trong sự phủ nhận với pháp (dharma). Nếu chuẩn mực xã hội không mâu thuẫn với pháp, các bạn nên cố gắng sống hòa hợp với họ. Với cách nầy, mọi người sẽ kính trọng các bạn. Điều này không phải có nghĩa các bạn hành động xuất phát từ tính kiêu căng tự phụ mà để mang lại lợi ích lớn nhất cho tất cả mọi người.

Khi thực hành Phật pháp, điều cần thiết nhất là tấm lòng thương yêu dành cho mọi người, vì đây là nền tảng của Bồ-đề tâm. Tình thương là một pháp thực hành đơn giản, thế nên rất lợi lạc cho người thực hành cũng như cho cộng đồng nơi họ đang sống, cho cả quốc gia và cả thế giới nữa. Lòng Từ và Bi luôn luôn được hoan nghênh. Dù các bạn tin có sự tái sinh hay không, các bạn cũng cần có tình thương ngay trong đời nầy. Nếu chúng ta có tình yêu, mới hy vọng có được một gia đình chân thực, tình huynh đệ chân thực, sự thanh thản chân thực, và hòa bình thực sự. Nếu lòng yêu thương bị đánh mất, nếu các bạn tiếp tục nhìn người khác như kẻ thù, thì bất luận bạn có tri thức phong phú hoặc được học hành nhiều đến đâu, bất luận bạn có nhiều khả năng phát triển về vật chất, thì các bạn chỉ gặt hái lấy khổ đau và khủng hoảng mà thôi. Các sinh vật thường tiếp tục lừa gạt và lấn lướt lẫn nhau, cơ bản là mọi người tồn tại trên bản chất của cái khổ vô cùng, thế nên lạm dụng hoặc ngược đãi lẫn nhau là điều vô nghĩa. Nền tảng của mọi pháp tu tập tâm linh là tình thương. Để cho các bạn thực hành được điều này tốt đẹp, đó chính là ước nguyện của tôi. Dĩ nhiên, để có thể thực hành được điều nầy trong mọi hoàn cảnh, cần phải có thời gian. Nhưng các bạn đừng nên đánh mất lòng can đảm. Nếu chúng ta muốn đem hạnh phúc đến cho nhân loại thì chỉ còn một con đường duy nhất nầy thôi.


               NHỮNG ĐIỀU TRONG TÂM TƯỞNG

 

 

L.N.Đ:

Những cuộc phỏng vấn nầy do Ron Gluckman tiến hành nhiều nơi trong thời gian Đức Đạt-lại Lạt-ma sống lưu vong ở Dharmasala, (Ấn Độ) từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1996.

Ron Gluckman là nhà báo người Hoa Kỳ, đã đi rất nhiều nơi để viết về nhiều đề tài phong phú và đa dạng. Những chi tiết từ loạt bài phỏng vấn nầy đã được đăng tải trong các tạp chí Asiaweek: Good Weekend, Sydney Morning Herald, Dagens Nyheter Manads Magasin và trong nhiều tạp chí khác. Sau khi loạt bài phỏng vấn được đăng tải, thì Hồng Kông thuộc chủ quyền của Trung Hoa. Ron Gluckman rời Á Châu, thực hiện những đề tài khác ở châu Mỹ La Tinh và châu Phi. Trong khi đó, Đức Đạt-lại Lạt-ma vẫn ở lại Ấn Độ.

Đức Đạt-lại Lạt-ma bước vào căn phòng, nhưng trước đó đã lâu, căn phòng đã tràn ngập phong thái nhiệt tình, thanh thản và tư tưởng chân thực phát khởi từ thiện tâm. Nhưng cũng ngay trước đó, căn phòng như nổi bồng lên bởi tiếng cười của Ngài, vang dội thường xuyên sâu thẳm, giàu nội lực phấn khích. Ngài làm mọi người rung động nhiều lần bởi tiếng cười của mình và khuôn mặt hiếm khi thiếu vắng nụ cười dù chỉ trong giây phút ngắn ngủi. Mắt Ngài, đặc biệt, lấp lánh sự linh động đầy sức thu hút, như đôi mắt của trẻ thơ.

Và cuộc trao đổi bắt đầu.

Hỏi: Ngài có lạc quan về tình hình Tây Tạng?

Đạt-lại Lạt-ma: »Vâng, tôi rất lạc quan«. Ngài trả lời, rồi giải thích: »Lạc quan, có nghĩa là trong vài tháng tới, sẽ có một giải pháp. Khi tôi không có niềm hy vọng, thì ngay lúc ấy tôi không phải là người lạc quan. Nhưng thời gian trôi qua, tôi nghĩ rằng mọi chuyện sẽ đổi thay. Từ viễn cảnh nầy, tôi rất lạc quan...«

Rồi Ngài cười khúc khích và nói thêm: »Và tôi đã lạc quan suốt 37 năm qua«.

Hỏi: Ngài sẽ trở lại Tây Tạng chứ?

Đạt-lại Lạt-ma: Chắc chắn (Đức Đạt-lại Lạt-ma trả lời không chút do dự với giọng nói vút cao pha lẫn tính khí vui nhộn). Vâng, tôi thấy rất chắc chắn, không nghi ngờ gì cả. Trước hết, tôi muốn nhìn thấy những gì đang thực sự diễn biến. Điều tôi quan tâm chính là nền văn hóa Tây Tạng. Tôi thường xem đó là nền văn hóa Phật giáo. Đó không chỉ là một nền văn hóa cổ, mà nó rất có ích cho thời đại hiện nay... Nền văn hóa ấy có thể làm phát sinh tình hữu nghị và hòa bình. (Ngài lại cười). Nó thật là có ích, là rất tốt.

Ngay cả khi chúng ta tiếp cận với những vấn đề khó khăn bằng một nụ cười, vấn đề sẽ trở nên dễ chịu hơn. Chúng ta sẽ ít gặp rắc rối hơn. Nếu các bạn nghiêm trang quá, các bạn chỉ đối diện với nhiều khó khăn hơn mà thôi.

Cuộc đời đôi khi cũng rất nghiêm trang.

Hỏi: Ngài có khi nào hoài nghi và tiếc nuối không?

Đạt-lại Lạt-ma: »Hầu như không. Từ khi Trung Hoa đầu tiên xâm chiếm Tây Tạng, (vào năm 1950) đến nay, nhìn lại suốt 44, 45 năm qua, khi nghĩ về những quyết định cơ bản lớn lao, tôi vẫn không hối tiếc điều gì và tôi không nhớ có lúc nào niềm tin hay tinh thần của mình hoàn toàn biến mất hay dao động cả.

Phần mình, tôi suy nghĩ về những vấn đề xuất phát từ nền văn hóa Phật giáo, thái độ đối với cuộc đời, cuộc sống của chính mình đối với sinh mạng của toàn nhân loại, sinh hoạt trên hành tinh này, dường như hoàn toàn có ích rất nhiều cho sự hỗ trợ ý chí tinh thần«.

»Một điều quan trọng nữa là, tôi hoàn toàn tin rằng mục đích của chính đời sống con người là hạnh phúc. Hạnh phúc chân thực, hạnh phúc chân chính sẽ đến khi các bạn thấy có chút lợi ích từ cuộc sống của mình mang lại. Thế nên các bạn có chút hài lòng. Cuộc đời tôi, chính ngay cuộc đời nầy, vì nhiều hoàn cảnh, và mặc dù khả năng của tôi hoàn toàn có hạn, tuy vậy, tôi vẫn nghĩ rằng sự tồn tại của đời mình ít nhất cũng đem lại chút lợi lạc cho sáu triệu dân Tây Tạng, cũng như những người Tây Tạng đang ở trong tù và ngay cả những người sẽ bị tử hình... Đó là mục đích, đó là cuộc sống.

»Không có một ai, chẳng có một người nào không có phiền muộn«. (Cười lớn).

Những thứ rắc rối ấy luôn luôn hiện hữu ở đó. Nhưng, nếu ngay trong những phiền muộn ấy, các bạn tìm thấy những điều có ích, thì cũng đủ cho các bạn giữ vững tinh thần rồi. (Cười lớn)

Nếu các bạn chỉ nhìn thấy những khía cạnh tiêu cực, thì các bạn sẽ chỉ thấy những điều tệ hại. Nhưng, cùng lúc đó, nếu các bạn biết nhìn vào khía cạnh tích cực, thì chỉ thấy toàn những điều hay. Thế nên, bạn đã thấy rõ. Đó chính là sự chọn lựa của mình. Dĩ nhiên, trên bình diện thực hành các bạn phải rất thực tế. Nhưng trên bình diện tâm linh, tốt hơn là phải suy nghĩ theo hướng tích cực và giữ vững ý chí của bạn. Dù các bạn có thành công hay không cũng không phải là điều quan trọng. Về phương diện tâm linh, chúng ta phải hoàn toàn giữ chất trong sáng. Nỗ lực, nỗ lực, và nỗ lực. Với mọi nỗ lực, thì khi nhìn sự thất bại vẫn thấy không có gì là đáng tiếc cả. Đó là triết lý của tôi.

Hỏi: Làm thế nào để nền độc lập của Tây Tạng có thể thành hiện thực trên thế giới?

Đạt-lại Lạt-ma: Điều ấy quá xa. Theo quan điểm của tôi, tôi hình dung tùy thuộc vào sự tiếp cận của tư tưởng Trung đạo: quy luật tự thân vận động. Như về vấn đề kinh tế, Tây Tạng là quốc gia khép kín, thế nên rất khó khăn để phát triển nhanh chóng. Một vấn đề khó ở đây là khi tôi muốn Tây Tạng có thêm nhiều công xưởng hoặc xí nghiệp, thì cùng lúc đó, ngay khi khởi đầu, điều rất quan trọng là phải giữ cho được sự tinh khiết của môi trường, đặc biệt là trong sự thăm dò và khai thác tài nguyên. Nếu chúng tôi chỉ nghĩ đến lợi nhuận, điều đó thật là nguy hiểm.

Trong lĩnh vực kinh tế, tôi không phải là chuyên gia. Ước nguyện của tôi là nêu lên vài ý niệm xã hội liên quan đến tầm quan trọng về lợi ích của con người, đặc biệt là cho những người có ít đặc quyền. Chúng ta sẽ cần đến một vài loại trách nhiệm, quyền kiểm soát của nhà nước để chăm sóc những người ít được hưởng quyền lợi nầy. Chúng ta sẽ cần có một nền kinh tế quân bình, ổn định, một hệ thống kinh tế thị trường, nhưng cùng lúc, vẫn duy trì những quan điểm về xã hội.

Trong nhiều năm qua, tôi muốn có sự quan tâm nhiều hơn đến phúc lợi xã hội, đặc biệt là lãnh vực giáo dục và sức khỏe của chư Tăng Ni Phật giáo, cũng như các huynh đệ Thiên chúa giáo. Điều ấy rất quan trọng, mà chúng ta thì đang thiếu rất nhiều.

Hỏi: Vai trò của Đạt-lại Lạt-ma trong tương lai sẽ là gì?

Đạt-lại Lạt-ma: Dù sao đi nữa, đến lúc nào đó, tôi sẽ xin rút khỏi những trách nhiệm nầy. Tôi sẽ đem hết sức mình cống hiến cho sự phát triển nâng cao nền văn hóa Phật giáo, đó là ước nguyện chính của tôi, không chỉ riêng cho Tây Tạng, mà còn cho Trung Hoa, vùng Bắc Ấn Độ và Mông Cổ. Và tôi cũng rất muốn giữ mối quan hệ mật thiết với những người bạn ở Tây phương và các nơi khác trên khắp thế giới. Chúng ta đã phát triển một tình bạn chân thực, cũng như tình huynh đệ chân thành. Đó là tôi muốn mang đến sự hòa hợp chân thực và thường xuyên giữa các dân tộc. Trên phương diện nầy, tôi cảm thấy có chút hãnh diện là tôi đã tạo được sự chia sẻ giữa Phật giáo Tây Tạng và các huynh đệ Thiên chúa giáo. Chúng tôi đã tạo được mối quan hệ rất thân thiện và hiểu biết lẫn nhau.

Thế nên, trong tương lai, cho đến ngày cuối cùng của đời mình, tôi mong được làm điều gì đó để phát triển sự hòa hợp giữa con người của các truyền thống tôn giáo khác nhau.

Tôi đơn cử, ví như luân lý thế gian, đó là động lực chính của hạnh phúc cuộc đời, sự an vui của gia đình, sự an ninh trong cộng đồng... mà không cần thiết phải là đức tin tôn giáo... Để phát triển gia đình, xã hội, quốc gia mình, các bạn cần phải có gia đình, đó là một trường hợp. Nếu lợi ích của mình chẳng đem lại gì cho lợi ích của người khác, thì các bạn có thể xem đó là chỉ nghĩ đến riêng mình nhưng thực tế thì không phải như vậy.

Trong hoàn cảnh chúng tôi, để cho Tây Tạng phát triển thịnh vượng, hòa bình và cuối cùng, Tây Tạng sẽ phát triển thành một vùng hòa bình. Để điều ấy xảy ra, chúng ta phải quan tâm đến lợi ích của nước Ấn Độ, lợi ích của nước Trung Hoa và lợi ích của các nước láng giềng khác. Đó là một trường hợp. Ngay cả đại lục nầy đối với đại lục khác cũng tùy thuộc với nhau rất nhiều. Đó là thực tế, hoàn toàn rõ ràng, cũng như trong nhân loại, đặc biệt là trong tầng lớp lãnh đạo. Nhưng trong thực tế, quan niệm về chúng ta và chúng nó, về căn bản, vẫn còn nhiều khác biệt.

Hỏi: Xin ngài nói về sự nóng giận.

Đạt-lại Lạt-ma:

Có lần tôi đã nổi nóng, nhưng hôm nay thì không (Ngài dừng lại hồi lâu như hồi tưởng lại những ngày đã qua). Ngày hôm kia, tôi có một cuộc họp với một nhân vật quan trọng. Tôi thấy mình mắc phải chút sai lầm. Sao vậy? Đó là việc riêng của tôi (Ngài nói rồi phá lên cười lớn).

Tranh giành quyền lực, Ngài nói tiếp: Thật là xấu hổ cho trò chính trị nhỏ mọn. »Cảm giác bực bội«. Ngài nói tiếp một cách nghiêm trang, »Thực ra nó không là gì cả. Khi tôi nghe về sự đàn áp dã man, về sự kỳ thị với dân Tây Tạng, thì dĩ nhiên, trong một thời gian ngắn, tôi thấy mình có chút cảm giác khó chịu, chút nóng giận, nhưng cảm giác ấy đến rồi đi. Có thể giải thích như thế nầy: Bản tâm ta ví như đại dương, thỉnh thoảng gợn lên vài cơn sóng vọng tưởng, như cơn giận chẳng hạn, nó đến rồi đi. Nhưng sóng vọng tưởng ấy chẳng ảnh hưởng gì đến bản tâm. Đó là nhờ tư tưởng Phật giáo và nếp sống văn hóa Phật giáo.

Cuộc đời rất thanh thản... Các bạn có thể đánh mất hy vọng... hoặc giữ vững được đời sống tâm linh. Khi ấy, chất liệu tinh thần trở nên kiên định và rất bền vững.

Hỏi: Trong cương vị một nhà lãnh đạo với rất nhiều lễ nghi, Ngài thấy như thế nào?

Đạt-lại Lạt-ma: Với cương vị một Đạt-lại Lạt-ma, có thể rất có ích. Tôi có thể cống hiến được nhiều cho mọi người. Về mặt khác, trong quá khứ, đã có quá nhiều lễ nghi. Điều ấy tôi không thích, những ngày đó. Vì tôi thích sống tự nhiên hơn. Và tôi nghĩ rằng tôi chỉ là một người dân Tây Tạng. Thế nên, tôi thường nói chuyện và nhấn mạnh trên cơ sở nầy. Nhưng đôi khi người ta vẫn quá nghiêm trang. Điều ấy thúc đẩy cho vấn đề tôi muốn trình bày.

»Tôi thích giao tiếp với mọi người. Nhưng nếu mọi người đều quá nghiêm trang, họ sẽ bị bối rối trước lời tôi nói, điều ấy sẽ gây nên sự nhầm lẫn. Một số người đã vận dụng ý nghĩa lời nói của tôi. Họ đã quá nghiêm túc về những gì mà Đạt-lại Lạt-ma nói. Điều đó quá nghiêm trọng.

Vì tôi là một Đạt-lại Lạt-ma, đôi khi tôi cảm thấy có chút xa cách với mọi người. Về mặt tinh thần, tôi luôn luôn đồng cảm với người bình dân. Nhưng vì vị trí của một Đạt-lại Lạt-ma, các bạn thấy đó, một số yếu tố đóng khung cô lập đến theo. Khi tôi còn trẻ, đôi khi tôi cũng có cảm giác hay mong ước được theo đám bạn nhỏ chơi đùa. Khi tôi ở Potala, nơi tôi thường ở qua mùa Đông, căn phòng của tôi thường là rất lạnh và tối.

Đặc biệt, vào lúc hoàng hôn, tôi nhìn mặt trời lặn rồi nhìn xuống bóng mình, thấy nó trở nên lớn hơn.

Đôi khi, tôi cũng thấy hơi buồn. Đến nay, cảm giác ấy chỉ giúp cho tôi thêm cơ hội để ngồi thiền. Nhưng vào lúc ấy, khi còn ở Potala vào mỗi lúc hoàng hôn, những đứa trẻ từ đồng cỏ ca hát khi trở về nhà chúng. Lúc ấy tôi nghĩ, thích thú biết bao khi được đi cùng các bạn ấy.

May mắn thay, lúc đó, tôi có rất nhiều bạn tốt, mặc dù tuổi tác cách biệt nhau khá nhiều, nhưng các bạn ấy vẫn chơi với tôi như bạn bè cùng trang lứa. Tôi thấy thời thơ ấu của tôi rất hạnh phúc.

Hỏi: Ngài dùng thời gian nào để ngồi thiền?

Đạt-lại Lạt-ma: »Vào buổi sáng, dù lúc đi xa. Thường vào lúc 4 hoặc 5 giờ sáng. Ở đây thường là vào 3 giờ 30 sáng, đôi khi 4 giờ. Khi tôi đi xa thì bắt đầu vào lúc 5 giờ sáng, nếu ngày hôm trước bị trễ, thì tôi bắt đầu vào lúc 4 giờ 30. Thông thường, chương trình làm việc trong ngày bắt đầu từ 8 giờ 30 hay 9 giờ sáng, thế nên dành 3-4 giờ để ngồi thiền trong ngày là hợp lý.

»Đôi khi trong chuyến hành trình dài bằng xe hơi, đó là thời gian tốt nhất để thiền quán. Trên máy bay cũng thế, nếu không có điều gì làm xáo trộn. Nếu có quá nhiều xáo trộn thì...” (Ha, ha, ha).

»Từ trước đến nay, tôi không bao giờ ngủ khi đi máy bay. Tôi rất sợ. Khi tôi bước vào lòng máy bay và họ đóng cửa lại, thì không còn một chọn lựa nào khác. (Ha, ha, ha!)

Hỏi: Tình trạng sức khỏe của Ngài ra sao?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi lạy Phật hằng ngày. Tôi dành 10 phút mỗi ngày tập thể dục bằng cách đạp xe, rồi tập nhảy. Nhưng theo kinh nghiệm hạn hẹp của tôi, trạng thái an tĩnh của tâm dường như là một yếu tố chính của sức khỏe. Một bác sĩ cho biết áp huyết của tôi giống như áp huyết của trẻ thơ.

Trước đây, tôi đã bị bệnh hoàng đản[44] và loét bao tử. Ngay cả trước khi sang định cư ở Ấn Độ cũng không được khỏe cho lắm. Nhưng thời gian qua tôi đã sử dụng thuốc. Nay đã khá hơn nhiều. Bây giờ tôi có thể dùng được thức uống lạnh, mà trước đây thì không thể, như nước cam vắt, trước đây thì hoàn toàn không. Tôi bị những cơn mưa giông cùng sấm sét... (Ha, ha, ha!) Sấm sét trong bao tử tôi... (Ha ha ha!)

Hỏi: Ngài có ý tưởng gì về những Đạt-lại Lạt-ma tiền nhiệm?

Đạt-lại Lạt-ma: Nhiều bậc đại sư xem Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ V[45] như là hiện thân của một vị thần trí tuệ. Nói cách khác, như là Đức Phật, hay là một người đã đạt đến kinh nghiệm chứng ngộ tâm linh cao nhất. Người như thế có thể thị hiện hằng triệu hóa thân cùng trong một lúc. Trong trường hợp hóa thân của Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ II,[46] ngài biểu hiện 100 hóa thân cùng một lúc. Cuối cùng, chỉ một đứa bé được công nhận là hóa thân của Đạt-lại Lạt-ma... còn nhiều nữa...

Điều quan trọng là đảm đương công việc mà vị Đạt-lại Lạt-ma trước đã đặt nền móng. Mục đích chính của việc tái sinh trở lại đều với mục đích giống nhau, là để tiếp tục công việc của vị tiền nhiệm. Trường hợp tôi, có một giấc mơ gặp gỡ vị Đạt-lại Lạt-ma thứ V và được nói chuyện với Ngài. Khi tôi gặp Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ V, tôi rất kính trọng. Khi tôi gặp Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ XIII trong mơ, tôi cũng có một niềm xúc cảm rất lớn về Ngài. Có một lần trong giấc mơ, tôi hỏi tình trạng khó khăn nhất mà Ngài đang gặp phải là gì? Câu trả lời, bất hạnh thay, không được rõ ràng chút nào... (Ha ha ha!)

Hỏi: Ngài quan niệm như thế nào về sự tái sinh như là một phương pháp chọn lựa người lãnh đạo?

Đạt-lại Lạt-ma: Từ trước đến nay, sự tái sinh rất là huyền nhiệm. Nhưng trong tương lai, chúng tôi sẽ thực hiện rất rõ ràng, người lãnh đạo, trong ý nghĩa nắm quyền lực điều hành đất nước nên được chọn qua bầu cử. Chúng ta đã tiến hành việc đó lâu nay rồi«.

Nhưng người dân Tây Tạng trong nước lại không đồng ý như thế. Họ không tán thành sự thay đổi nầy và không bầu chọn Đạt-lại Lạt-ma. Vâng, thật vậy! Và đây là điều nguy hiểm. Thời gian trôi qua, mọi việc đều tùy thuộc vào kinh nghiệm của mình. Trong trường hợp nầy, cần phải có sự xác định rõ, nhưng cũng có nhiều sự bất tiện đặc biệt.«

Suốt đời, tôi chỉ muốn làm những việc thuộc về tâm linh, không muốn làm những việc hành chính và quản lý. Việc ấy có thể được điều hành bởi những người được bầu cử ra hơn là bởi tôi. Trong những lãnh vực khác, như làm tăng trưởng giá trị nhân văn hay giá trị Phật pháp, tôi nghĩ là tôi có thể làm được tốt hơn. Người được bầu cử ra không thể làm được việc nầy.

Tôi cảm thấy một vấn đề nào đó, một lĩnh vực nào đó không thể được điều hành bởi những người nào khác, vì đây là những trách nhiệm của tôi, cho đến khi tôi chết, tôi sẽ tiếp tục tiến hành. Tôi không muốn người khác đối diện với những chướng ngại của các vấn đề nếu tôi còn giữ cương vị lãnh đạo chính phủ... Việc điều hành những việc hành chính sẽ được tốt hơn bởi những người khác.«

Tự nhiên, trong giai đoạn khởi đầu của nền dân chủ, chúng ta phải đối diện với một số vấn đề. Thế nên trong giai đoạn nầy, nếu tôi ở Tây Tạng, nếu tôi còn sống, sẽ như là nhân vật thứ 3, tôi có thể giúp xử lý mọi việc được êm đẹp.

Hỏi: Có phải Ngài sẽ là vị Đạt-lại Lạt-ma cuối cùng không?

Đạt-lại Lạt-ma: Bây giờ, các bạn thấy đó, hiện thực là tùy thuộc vào nhân dân Tây Tạng. Từ năm 1969, tôi đã đề cập trong phát biểu chính thức vào ngày 10 tháng 3. Tôi nói rằng, dù việc lập ra một Đạt-lại Lạt-ma có nên tiếp tục hay không là tùy thuộc người Tây Tạng. Như đối với trách nhiệm của tôi, trách nhiệm chính trị. Còn đối với vị Đạt-lại Lạt-ma tiếp theo, lúc ấy, tôi không biết nữa. Nếu dân Tây Tạng muốn có một vị Đạt-lại Lạt-ma tiếp theo, và dù vị Đạt-lại Lạt-ma ấy phải điều hành công việc chính trị, đó cũng là tùy vào người dân Tây Tạng.

Như các bạn biết, nay tôi đã 61 tuổi. Có lẽ chỉ vài năm nữa, nếu chúng ta có cơ hội để trở về Tây Tạng, lúc ấy tôi đã 65 tuổi, rồi phần còn lại của đời mình, tôi chân thực muốn hiến mình cho một số lĩnh vực khác nhau. Đến lúc đó, tôi sẽ quyết định. Người Tây Tạng đang đòi hỏi ở tôi, nhưng tôi cũng có quyền nầy.

Hỏi: Nhưng với quan điểm cá nhân, Ngài có tái sinh trở lại như một Đạt-lại Lạt-ma nữa không?

Đạt-lại Lạt-ma: Không nhất thiết phải là Đạt-lại Lạt-ma. Các bạn thấy đó, sự tái sinh của tôi là được rồi! Dĩ nhiên, dù muốn hay không, tôi vẫn phải tái sinh (cười lớn với vẻ khôi hài). Đó là luân hồi mà. Tôi không tự cho mình là người cao quý. Tôi vẫn còn trong luân hồi (samsara). Thế nên tương lai tôi không nằm trong bàn tay tôi. Tôi như một hành giả, tôi luôn luôn sống trong cầu nguyện...

Lời kinh tôi thích nhất là: »Hư không thế giới vô tận, nỗi khổ đau của chúng sinh cũng vô tận. Con nguyện hiện thân ở đây để đem lại sự an vui lợi ích cho tất cả mọi loài«.

Bài kệ nầy ban cho tôi sức mạnh. Thế nên, dù nếu tôi có vào Niết bàn, chẳng bao lâu cũng phải tái sinh trở lại. Lúc ấy, hiện thân của tôi sẽ luôn luôn ở cõi nầy, đó là quyết định của tôi.

Nếu tôi chết, dù trong vài năm sắp đến, tôi vẫn nghĩ về người dân Tây Tạng... Trong trường hợp nầy, người Tây Tạng sẽ muốn tôi có một thân tái sinh khác. Nếu tôi còn sống 20-30 năm nữa, lúc ấy toàn bộ tình hình sẽ đổi khác, với những cải tổ mới và tình hình trở nên bình thường và hòa dịu, lúc đó có lẽ nhân dân Tây Tạng bây giờ sẽ không còn xem việc lập nên một Đạt-lại Lạt-ma là quan trọng nữa. Lúc ấy, trong trường hợp đó. Tôi sẽ là vị Đạt-lại Lạt-ma cuối cùng.

Nhưng sự tái sinh của tôi sẽ chấm dứt chăng? Không, chắc chắn không. Cương vị Đạt-lại Lạt-ma vẫn hiện hữu. Nhưng người dân Tây Tạng không còn muốn công cử một Đạt-lại Lạt-ma nữa.

Nhưng vì câu hỏi của bạn, nếu tôi sẽ chết trong một thời gian ngắn nữa, tất nhiên tôi sẽ có một cuộc tái sinh chắc chắn trở lại để tranh đấu cho tự do của Tây Tạng. Nhưng vì đây là cuộc đấu tranh của một quốc gia, không phải của một phe nhóm hay của một uỷ ban nhỏ, dân tộc Tây Tạng vẫn còn đó với cuộc đấu tranh chính nghĩa nên cuộc đấu tranh ấy sẽ tiếp tục.

Tệ hại thay, một số người Trung Hoa nói rằng mọi việc đều tùy thuộc vào một cá nhân và người ấy nay đã hơn 60 tuổi, thế nên khi ông ta xong đời, toàn dân sẽ mất hẳn tương lai. Điều ấy hoàn toàn sai lầm. Loại mong muốn ấy hoàn toàn thiển cận. Cuộc đấu tranh của nhân dân Tây Tạng sẽ luôn luôn tiếp diễn.

Một mối nguy hiểm thực tế là, nếu nhân dân Tây Tạng trở thành một nhóm dân tộc thiểu số, ở giữa hằng triệu dân Trung Hoa, thìđó là cái chết thực sự của dân Tây Tạng. Mặc dù đó là một mối nguy khác, nhưng đó là lý do tôi muốn nói. Đôi khi thời gian đã kề cận quá rồi.

Hỏi: Ngài nghĩ như thế nào về sự lan tỏa của Phật giáo Tây Tạng ở phương Tây?

Đạt-lại Lạt-ma: Theo tôi, trong tình hình phương Tây, tôi cho rằng sự lan tỏa nầy cần đặt trong bối cảnh của một quốc gia Thiên Chúa giáo. Và tôi nghĩ điều tốt hơn là các bạn nên theo giá trị truyền thống của riêng mình, bao gồm cả giá trị tâm linh riêng của các bạn.

Có một vài cá nhân người Tây phương quan niệm như thế về Tây Tạng, về phương diện lễ nghi tôn giáo. Đôi khi tôi cảm thấy quá nhiều và thật nguy hiểm khi bỏ quên hay đánh mất những điều thiết yếu trong khi tập trung vào những nghi thức long trọng. Nhưng người bình dân lại thích những hình thức nầy hơn.

Các bạn cần phải có một nỗ lực mạnh mẽ, tạo nên một lực chuyển biến thực sự. Điều nầy đòi hỏi phải có thời gian. Những tín đồ thích lễ hội, điều đó quá dễ dàng. Có một mối nguy thực sự ở đây là sẽ đánh mất ý nghĩa chân thực, đánh mất trí tuệ, ảnh hưởng sâu sắc từ sự chuyển hóa tâm thức và thay đổi phong cách sống.

Tôi để ý có một vài người Tây phương cũng thích lễ nghi và những sinh hoạt dạng nầy. Tôi chắc chắn điều nầy không kéo dài được lâu. Đó giống như thời trang, sự ưa thích nầy, nó đến rồi đi. Sau một thời gian, họ sẽ nhận ra, thông qua kinh nghiệm của mình, chẳng có ảnh hưởng gì cả... (Ha ha ha!)

Tôi nghĩ ở phương Tây hoặc ở các nước đạo Phật chưa lưu hành, có hai dạng người: một dạng rất hời hợt, chỉ bị hấp dẫn bởi các lễ nghi, màu sắc và mọi hình tướng khác. Sự ưa thích đó không được dài lâu. Dạng người thứ hai có thể thông tuệ hơn.

Tôi chỉ xem mình là một tăng sĩ Phật giáo, nhưng một số lời giải thích về quan niệm của đạo Phật về thế giới, không phải làm cho tôi tin ngay tất cả. Các bạn thấy đấy, chúng ta phải có tự do suy nghĩ, tự do tham cứu. Rồi thông qua tham cứu, mới nhận ra một số vấn đề, thấy nó trở nên rõ ràng hơn, từ đó quý vị mới chấp nhận được. Nếu có điều gì trái nghịch, thì các bạn có quyền tự do không chấp nhận lý thuyết kinh điển. Chính Đức Phật đã nói rõ điểm nầy: »Các con không nên chỉ chấp nhận lời ta nói qua sự tôn kính, mà đúng hơn là nên thông qua sự chiêm nghiệm của chính mình.«

Hỏi: Nhưng tại sao đối với người Tây phương Ngài rất được ngưỡng mộ?

Đạt-lại Lạt-ma: Về tôn giáo, đối với người Tây phương, tôi nghĩ là rất đa dạng. Có một số người rất thành tâm, một số khác lại hiếu kỳ. Cũng vậy, nên khi nghĩ về Phật giáo ngày nay, tôi cho rằng; điều quan trọng nhất là nắm giữ khía cạnh tâm linh và không chỉ là văn hóa Phật giáo thôi. Mỗi quốc gia có một nền văn hóa khác nhau. Rốt ráo, sẽ phải có một đạo Phật phương Tây, đạo Phật châu Âu, có cùng một bản chất, nhưng biểu hiện qua những truyền thống văn hóa đa dạng khác nhau.

Hỏi: Ngài muốn được mọi người nhớ đến mãi bằng cách nào?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi chẳng quan tâm. Các bạn biết đó, một lần nữa, một số bạn bè tôi muốn viết tiểu sử tôi. Tôi nói với các bạn rằng, những gì quan trọng là lúc tôi đang sống. Tôi sẽ đem hết sức mình, mang sự hiện hữu sinh tồn của mình để dành cho cái thiện, cho sự lợi ích của toàn thể mọi người. Điều ấy rất quan trọng. Đó là tôi đã hoàn thành sứ mệnh. Lúc ấy, dù mọi người có nói tốt nói xấu cũng chẳng thành vấn đề. Hãy để cho họ nói. Tôi chẳng mong muốn ghi lại những gì tôi đã làm.

Khi tôi vào Niết bàn, tôi sẽ nói cho mọi người biết. (Ha ha ha!...)


GIÁO LÝ SIÊU VIỆT:

SỰ HÒA GIẢI CHO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

L.N.Đ: Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokiteshvara). Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 TENZIN GYATSO sinh năm 1935, là người lãnh đạo tinh thần của hằng triệu Phật tử, người Tây Tạng (Tibetan) và Phật tử ở các quốc gia khác. Sau khi Trung Hoa chiếm đóng lãnh thổ Tây Tạng năm 1950, buộc Ngài và hằng triệu dân Tây Tạng phải sống lưu vong từ năm 1959. Ngài đã lập một chính phủ lưu vong tại vùng Dharamsala, thuộc lãnh thổ Ấn Độ. Ngài đi khắp nơi trên thế giới để truyền bá Phật pháp cũng như tìm kiếm sự ủng hộ tinh thần cho quốc gia mình. Từ khi Trung Hoa bắt đầu đàn áp dân Tây Tạng, hơn 6000 tu viện đã bị phá hủy và một triệu dân Tây Tạng bị giết chết.

Năm 1989, Đạt-lại Lạt-ma 14 được nhận giải Nobel Hòa Bình do nỗ lực cống hiến cho phong trào bất bạo động và nhân quyền trên thế giới. Bài dịch nầy được thu thập từ tập sách cuả Nhà xuất bản North Atlantic Books năm 1996, bao gồm những cuộc phỏng vấn khi ngài viếng thăm nước Pháp vào cuối năm 1993. Để dễ theo dõi, chúng tôi tạm sắp xếp theo từng chủ đề và cố gắng dịch sát với nguyên tác, dùng lối văn ghi lại rất trung thực các cuộc phỏng vấn. Những chú thích ở cuối trang là của người dịch.

              

SỰ CHẾT, AN LẠC VÀ MÔI TRƯỜNG

 

Hỏi: Theo Ngài, phải chăng cái chết chỉ là một tiến trình sinh học, một  hiện tượng y khoa hay chỉ là sự biến chuyển tâm linh của từng con người? Thực sự chúng ta có cần phải đem hết sức cứu chữa để ít nhất, có thể kéo dài đời sống của nạn nhân? Hay ngược lại, phải chăng không hợp lý khi liều lĩnh để cho thân nhân của mình chịu đựng cái chết, trong khi có thể cứu chữa được nhờ kỹ thuật y khoa tối tân, và bệnh nhân bị cách ly hẳn với gia đình, cùng bạn bè thân thuộc?

Theo Ngài, cái chết tốt hay xấu? Nói chung, có phải những nỗ lực của Tây y nhằm can thiệp vào tiến trình cái chết dường như là một vấn đề khiến Ngài rất quan tâm?

Ngược lại, nếu như cái chết chỉ là một sự kiện bình thường, nên để cho người thân trong gia đình được biết và gần gũi, cho đến thời điểm nào thì sự can thiệp của y khoa nên chấm dứt? Cần có sự trợ duyên nào để chúng ta thông báo cho người thân biết họ không cần phải có tâm lý né tránh cái chết nữa?

Trả lời: Trước hết, chúng ta nên có nhận thức rõ rằng cái chết thực sự là một phần của cuộc sống, tự nó chẳng có gì xấu cả. Trong Tử thư Tây Tạng (Tibetan book of the dead) có nói: »Chết chỉ là một ý niệm«. Nói cách khác chết chỉ là biểu hiện sự kết thúc của tâm thức trọng trược nầy và sự chấm dứt của vật nâng đỡ tâm thức ấy – cái túi da hôi thối. Tiến trình nầy xảy ra ở mức độ tập trung cao nhất của tâm thức. Nhưng cả sinh lẫn tử ở mức độ vi tế của tâm thức đều chẳng phải là cái được gọi là »cực quang tâm thức«[47].

Nói chung, dĩ nhiên chết là một cái gì đó mà ta thường sợ hãi. Tuy vậy, chết – điều mà ta chẳng muốn tiếp xúc với nó chút nào cả – lại không thể nào tránh được. Đây là nguyên nhân rất quan trọng. Khi ta còn đang sống mà đã quen thuộc với ý niệm chết, nên sẽ không phải là cú sốc khi biết cái chết sẽ đến, không phải chúng ta thường suy niệm về cái chết để mong tiến trình ấy đến nhanh hơn, ngược lại, cũng như mọi người khác, chúng ta cũng muốn được sống lâu hơn. Vậy mà, ta không mời, cái chết vẫn đến. Chúng ta nên tin rằng nếu bắt tay vào việc chuẩn bị cho tiến trình chết của mình sớm hơn, thì đến khi ta tiếp xúc với tiến trình chết, ta sẽ thoải mái chấp nhận nó hơn.

Theo tôi, chẳng có một quy luật phổ quát nào được xem là sự quan tâm chu đáo thường dành cho bệnh nhân để giúp họ kéo dài mạng sống. Đó là một vấn đề rất tế nhị. Để khảo sát, chúng ta cần phải có rất nhiều yếu tố, tùy thuộc vào nhiều trường hợp riêng biệt. Chẳng hạn, nếu chúng ta tìm cách kéo dài sự sống của một người bệnh rất nặng nhưng tinh thần vẫn còn ổn định, nghĩa là chúng ta giúp cho người ấy cơ hội để họ tiếp tục tư duy về đạo lý mà chỉ loài người mới có được. Chúng ta cần phải xem xét bệnh nhân có hưởng được lợi lạc gì không, khi cố gắng kéo dài mạng sống? Ngược lại, bệnh nhân sẽ phải chịu một sự đau khổ tột cùng về thể xác cũng như tinh thần, hoặc trải qua tâm lý cực kỳ sợ hãi.

Nếu bệnh nhân đã nằm liệt giường, lại là một vấn đề khác. Ước muốn của gia đình người bệnh cũng phải được cứu xét kỹ lưỡng, cũng như sự chi tiêu một khoản tiền lớn do việc trị liệu để kéo dài mạng sống.

Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là cố gắng hết mình để bảo đảm cho người chết ra đi một cách thanh thản, trong sự trầm tĩnh và an lạc. Có sự khác biệt rất rõ ràng trong tiến trình chết của một người có tu tập và một người chưa có niềm tin tôn giáo. Bất luận trong trường hợp nào, dù người chết có niềm tin tôn giáo hay không, tôi vẫn tin sự ra đi trong thanh thản và an lạc là điều tốt nhất.

Hỏi: Vừa rồi có nhiều người thường đặt vấn đề với một vị tiến sĩ, liệu sẽ có một ngày nào đó, con người không còn bị bệnh tật nữa. Ngài có nghĩ rằng sau những trò lừa bịp ấy hoặc là sau hằng trăm buổi hội thảo như thế nầy, ngày đó sẽ đến khi thế gian nầy thực sự được gội nhuần trong niềm an lạc?

Đạt-lại Lat-ma: Tôi rất tin và tiếp tục hy vọng rằng chúng ta sẽ đạt được sự bình an nơi thế gian nầy. Nhưng dĩ nhiên sẽ phải luôn luôn có những vấn đề rắc rối nhỏ nhặt xảy ra.

Hỏi: Qua những ấn tượng rất đẹp trong phim »Tại sao Phật pháp đến phương Đông?«, chúng tôi biết được sự an tĩnh của tâm thường gắn liền với sự giác ngộ, và được vận hành trong sự tương quan mật thiết giữa con người và môi trường họ đang sinh sống. Nhưng Phật giáo cũng thừa nhận tính chất vô ngã của hiện tượng giới mà chúng tôi hiểu một cách đơn giản là »bản thể«[48]. Xin Ngài chỉ cho chúng tôi rõ những lĩnh vực mà ý niệm về »không tự tính« chứa đầy trong kinh luận Phật giáo và về cách nhận thức »tính không« của hiện tượng giới như thế nào để có thể dẫn dắt chúng tôi thay đổi cách nhìn ngay trong môi trường xã hội đương thời?

 Đạt-lại Lat-ma: Người ta cho rằng các vật thể vô tri (các loài vô tình) thường không tồn tại trên cơ sở tự tính (inherent existence), mà chỉ tồn tại trên quy ước (conventional existence). Điều nầy không những đúng với các vật thể vô tri mà còn đúng đối với vạn vật hữu tình, có nghĩa là chúng hiện hữu do tâm thức (thức biến). Trên phương diện nầy, vật thể vô tri cơ bản là bình đẳng với sự hiện hữu của pháp giới hữu tình. Xét trong mối tương quan giữa ngoại cảnh và nội giới (tâm thức), theo một số trường phái triết học, đặc biệt là trường phái Du-già hành tông (yogacara) – một hệ phái thuộc Trung Quán Y tự khởi tông (svatantrika) và theo trường phái Duy thức (cittamatra), thì thế giới khách quan không hề hiện hữu, mà tất cả sự hiện hữu của pháp giới đều do ở tâm thức. Pháp giới không có sự hiện hữu trên cơ sở tự tính hoặc là ï hiện hữu đích thực, mà tính chất của các hiện tượng ấy chỉ là sự phân biệt được tạo nên bởi tâm (thức). Thế giới khách quan hiện hữu tùy thuộc vào tâm (thức), vậy nên nó tồn tại như một biểu hiện do tâm thức tạo ra. Do vậy, nó không tồn tại một cách độc lập ngoài sự quy định của tâm (thức), cũng không tồn tại độc lập trong tự tính của tâm. Do vậy, hiện tượng giới chỉ có thể được xem là tồn tại một cách khách quan.

Nói chung, Phật giáo công nhận thế giới này là tập hợp của rất nhiều vật thể cực vi – xem con người là một phần trong tự nhiên giới và bởi yếu tố nầy – tất nhiên có sự liên quan giữa kiếp người và môi trường chung quanh. Rõ ràng hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào môi trường chung quanh. Đây là lý do tại sao kinh luận Phật giáo dạy chúng ta nên có cái nhìn chính xác về tự nhiên giới

Chẳng hạn như trong giới luật tỷ-khưu có một điều cấm không được làm ô nhiễm hoặc hủy phá cây cỏ và thảo mộc. Theo sự ghi chép về công hạnh của Đức Phật, dường như có một sự liên hệ rất mật thiết với tự nhiên giới. Không phải Đức Phật được sinh ra trong hoàng cung mà sinh ra trong công viên, dưới tàng cây sa-la. Đức Phật hoàn toàn chứng ngộ dưới cội cây bồ-đề[49] (bodhitree) và từ giã thế gian, nhập niết-bàn giữa các tàng cây Sa-la. Dường như Đức Phật rất yêu thích cây cỏ.

NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VỀ

ĐẤNG SÁNG TẠO

Hỏi: Ngài thường nói rằng theo triết học Phật giáo, không có một đấng sáng tạo, không có một vị thần linh chủ tể sáng tạo ra thế giới, và điều nầy có thể vô tình cản ngăn những người có niềm tin vào thần quyền (divine principle). Xin Ngài giải thích rõ sự khác nhau giữa Kim Cang Trì. Bản Sơ Phật và Đấng Thượng Đế sáng tạo?

Trả Lời: Theo tôi được biết, Bản Sơ Phật (primordial buddha) cũng được gọi là Đức Phật Phổ Hiền[50], là thực tại tối thượng, biểu tượng cho Pháp thân – không tính – nơi mà tất cả mọi hiện tượng, thanh tịnh và nhiễm ô đều được hóa giải. Đây là giáo lý được xiển dương bởi cả Kinh thừa (sutra) và Mật thừa (tantra). Tuy vậy, trong vấn đề mà ông đang quan tâm, thì chỉ có truyền thống Mật tông mới giải thích Pháp thân (dharmakaya) theo thuật ngữ »cực quang bản hữu« (inherent clear light),  chính là tâm thể. Điều nầy như thể hàm ý rằng tất cả các hiện tượng, luân hồi và niết bàn, đều sinh khởi từ bản nguyên trong sáng chiếu diệu nầy.

Ngay cả trường phái Tân dịch cũng có kết luận rằng »trạng thái an nghỉ« của một hành giả Đại Du-già – trạng thái của một hành giả đã đạt được một cảnh giới thiền định, khi có được cảm nhận vi tế nhất về cực quang từ bản tâm – nghĩa là khi hành giả còn an trú trong cảnh giới vi diệu nầy, là hành giả hoàn toàn tự tại thoát khỏi mọi thứ vi tế che mờ bản tâm, khi ấy hành giả đã được gội nhuần trong trạng thái diệu lạc.

Vậy nên chúng ta có thể nói rằng điểm linh quang chiếu diệu, cội nguồn uyên nguyên nầy, rất gần với ý niệm về một Đấng sáng tạo, vì tất cả mọi hiện tượng, dù nó thuộc về luận hồi hay niết bàn, đều lưu xuất từ cội nguồn nầy. Nhưng chúng ta phải hết sức cẩn thận khi phát biểu về cội nguồn uyên nguyên nầy, thì chúng ta mới khỏi bị dẫn đến chỗ sai lầm. Ở đây tôi không có ý nói đến sự hiện hữu đâu đó một loại ánh sáng hỗn hợp, tương tự như trong khái niệm về đấng Brahma[51] của ngoại đạo, như một nền tảng của mọi hiện hữu. Chúng ta đừng để bị nghiêng về khuynh hướng thần thánh hóa cảnh giới ánh sáng chiếu diệu nầy. Chúng ta phải hiểu rằng khi đề cập đến »điểm linh quang của tự tính« vi diệu nầy, là đang nói trên bình diện của cá nhân con người.

Cũng thế, khi ta nói về nghiệp như là nguyên nhân khởi đầu của pháp giới, chúng ta phải giải trừ ý niệm về một thực thể độc nhất được gọi là nghiệp hiện hữu hoàn toàn độc lập (với pháp giới). Đúng hơn, ý tưởng tổng thể về nghiệp được tích lũy một cách cá biệt, là ở ngay khởi nguyên về sự sáng tạo khô cứng của thế giới. Trong khi theo Mật thừa, chúng ta nói rằng pháp giới lưu xuất từ điểm linh quang nầy, chúng ta không nhìn khởi nguyên nầy như là một thực thể độc nhất, mà như là một ánh sáng vi diệu tối thượng của từng sinh thể. Chúng ta cũng có thể nhận ra từ bản tâm thanh tịnh nầy, điểm linh quang của tự tâm chính là Đức Phật Bản sơ (primordial buddha). Tất cả mọi tầng bậc của sự sống mà mọi sinh thể trải qua – chết: thân trung ấm – tái sinh – đều chẳng biểu tượng cho một điều gì khác hơn là vô số biểu hiện của cực quang ẩn mật nầy, cả về mặt tâm thức vi diệu nhất và năng lực của tâm. Khi cực quang nầy càng giảm đi sự chiếu diệu, thì quý vị càng cảm nhận sự nặng nề khó chịu.

Theo nghĩa nầy, sự chết và giai đoạn trung gian là lúc mà những biểu hiện thô phù lưu xuất từ cực quang được tái hấp thụ. Ngay khi chết, chúng ta trở về lại với cội nguồn uyên nguyên nầy và từ đó, một dạng thể hơi thô trọng hiện lên để tạo thành tiền đề cho thân tái sinh (thân trung ấm). Tại giai đoạn tái sinh nầy, cực quang hiện thành một thân thể vật chất. Lúc chết, ta cũng trở về lại nơi nguồn gốc nầy. Và cứ thế, năng lực nhận ra cực quang vi diệu nầy, cũng được gọi là Đức Phật Bản sơ, tương tự như trực nhận ra niết-bàn, còn khi không nhận ra được điểm linh quang từ bản tâm, sẽ khiến chúng ta lang thang trong những cõi giới luân hồi.

Đây là cách tôi hiểu được về Đức Phật Bản sơ. Sẽ nhầm lẫn nghiêm trọng khi hiểu về Đức Phật Bản sơ như là một hiện hữu độc lập và tự hữu từ vô thủy. Nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng có một đấng sáng tạo độc lập, thì lời giải thích trong  Lượng thích luận[52] của Pháp Xứng[53], và chương thứ 9 trong luận giải của Tịch Thiên hoàn toàn bác bỏ lần lượt sự hiện hữu của tất cả từng hiện tượng một, sẽ bị phủ nhận. Điều nầy, trở lại sẽ bác bỏ luôn ý niệm về Đức Phật Bản sơ. Quan điểm của Phật giáo không chấp nhận sự xác quyết hợp lý mà không đứng trên sự khảo sát chính xác. Nếu kinh điển diễn tả Đức Phật Bản sơ như là một thực thể tự có, thì lẽ ra chúng ta có thể phải giải thích sự quyết đoán nầy mà không cần dùng những ẩn dụ.

Hỏi: Sự quan tâm về những khám phá trong ngành vật lý thiên văn và lý thuyết »big-bang« làm khơi dậy cả hai vấn đề. Một là sự quan tâm lớn lao đến vũ trụ và một là cuộc phỏng vấn thăm dò bởi những thành viên trong thế hệ chúng ta về cội nguồn mà họ sinh ra, họ sẽ về đâu và sự hiện hữu tồn sinh của họ. Lý thuyết »big-bang« đã có một ảnh hưởng rất quan trọng trong cách nhìn vào vật chất và bản thể; lý thuyết ấy đã giới thiệu một ý niệm mới có thể chấp nhận được. Những tư liệu về cấu trúc vũ trụ, có tác dụng tương dung tương nhiếp lẫn nhau và những khám phá mới tiếp tục được công bố, là một nguồn thắc mắc vô tận. Giống như các truyền thống tâm linh khác, Phật giáo cũng khảo cứu những huyền vi của vũ trụ. Nhưng Phật giáo lại từ chối ý niệm về Đấng sáng tạo – Tại sao?

Phần nhiều các khoa học gia Tây phương nghĩ rằng cuộc sống và tâm là một kết quả hoàn hảo trong quá trình tiến hóa vật chất vũ trụ, thế nhưng họ chẳng biết vật chất hình thành như thế nào và tại sao qua một phương pháp yếu tố cần thiết để làm sinh khởi sự sống và tâm thức hoàn chỉnh như thế. Những gì họ biết rành rẽ là những nhân duyên nầy vận hành rất sát sao. Tuy nhiên, nó đã hoàn chỉnh trong vũ trụ nầy theo cái nhìn của vật lý thiên văn. Ngài đã có một cái nhìn rất độc đáo và hoàn chỉnh về vấn đề nầy. Xin Ngài hoan hỷ cho chúng tôi biết về tâm thức và mối tương quan của nó với vũ trụ vật chất.

Đạt-lại Lat-ma: Vì sao Đạo Phật không chủ trương có một Đấng sáng tạo? Đạo Phật cho rằng người ta không thể nào tìm thấy một sinh thể từ khởi nguyên của vũ trụ bởi vì nguyên nhân chủ yếu tạo nên mọi việc cũng không có sự khởi đầu. Nếu có một điểm khởi nguyên cho vũ trụ nầy, ắt cũng phải có một khởi nguyên của tâm thức. Nếu chúng ta chấp nhận tâm thức có điểm khởi đầu, thì... chúng ta cũng sẽ phải chấp nhận nguyên nhân của nó cũng phải có một điểm khởi đầu, một nguyên cớ ngẫu nhiên nào đó bỗng dưng tạo nên tâm thức, điều nầy sẽ đưa đến rất nhiều vấn đề khác.

Nếu tâm thức phát khởi mà không có nguyên nhân hoặc từ một nguyên nhân thường hằng, thì nguyên nhân ấy sẽ phải tồn tại theo một nền tảng thường hằng, luôn luôn như vậy, hoặc hoàn toàn không tồn tại. Thực ra một hiện tượng tồn tại dù chỉ trong thoáng chốc cũng chứng minh nó tùy thuộc rất nhiều yếu tố nhân duyên. Khi tất cả các duyên đã hội đủ, thì hiện tượng được sinh khởi. Khi một trong những duyên nầy vắng mặt hoặc chưa hoàn chỉnh, thì hiện tượng ấy không hiển bày. Khi những nguyên nhân được xem là vô thủy và vô chung, thì sự có mặt của con người cũng được nhìn như là vô thủy vô chung. Thế nên có một đấng sáng tạo là điều không thể chấp nhận.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét một hiện tượng đặc biệt, một tảng băng đang tan chẳng hạn; thực vậy, nó có chỗ bắt đầu, nhưng nó được tạo ra như thế nào? Thế giới hiện tượng trình hiện như là kết quả từ sự tạo tác của các sinh thể sống trong thế giới nầy. Sự tạo tác hay nghiệp (karma), trở lại làm sinh khởi những ý định hay hành động của những sinh thể nầy khi không làm chủ được tâm thức của chính nó.

Đấng »sáng tạo ra thế giới« cơ bản chính là tâm. Trong kinh luận, tâm được mô tả là tác nhân. Kinh nói rằng tâm thức không có điểm khởi đầu. Nhưng ở đây chúng ta phải phân biệt cho được giữa tâm thức thô trọng và tâm thức vi tế. Tâm thức thô trọng phát sinh tùy thuộc vào hợp thể vật chất, tức thân thể. Đây là chứng cớ khi các bạn xem xét hệ thống dây thần kinh và chức năng của não bộ, nhưng nếu chỉ có những yếu tố vật chất tụ hội lại thôi thì chưa có nghĩa đầy đủ để tạo thành sự nhận thức.

Để có được nhận thức, có được chức năng quán chiếu và biết được một hiện tượng đang sinh khởi, cần phải có một nguyên nhân hợp nhất hoàn chỉnh. Nguyên nhân hợp nhất hoàn chỉnh cơ bản, có cùng một bản chất với kết quả, trong trường hợp nầy, chính là tâm thức vi tế. Đó chính là tâm thức thô trọng hay tâm thức vi tế đã siêu việt hẳn các tế bào do cha mẹ sinh ra ngay lúc vừa khởi niệm. Tâm thức vi tế không có chỗ khởi đầu. Nếu có, cái tâm được sinh ra từ một cái gì thì đó không phải là tâm. Thời luân Tan-tra (kalacakra tantra)[54] dạy rằng hành giả phải quay trở lại với từng hạt lân hư trần để nhận ra được nguyên nhân hợp nhất cơ bản của thế giới vật chất bên ngoài. Cũng như của thân thể con người.

Vũ trụ luận Phật giáo thiết lập vòng luân hồi của thế giới theo phương cách như sau: Đầu tiên là thời kỳ hình thành (thành), kế đến là thời kỳ vũ trụ nầy tồn tại (trụ), rồi đến giai đoạn bị tàn hoại (hoại), và tiếp theo là giai đoạn tiêu trầm để rồi biến mất (không) và tái tạo nên một vũ trụ mới. Trong cái không, tức các lân hư trần, từ các chất tử nầy mà một vũ trụ mới lại được hình thành. Chính trong những chất tử nầy mà nguyên nhân hợp nhất cơ bản của toàn thế giới vật chất được nhận thức.

Nếu chúng ta muốn mô tả sự hình thành của thế giới và thân thể vật lý của con người, mọi việc cần làm là phân tích và hiểu rõ phương cách mà các tiềm thể của các hóa chất và các phần tử mà vũ trụ có thể được cấu tạo thành hình dạng bắt nguồn từ các lân hư trần nầy. Chính là trên cơ sở tiềm năng đặc biệt của các chất tử nầy mà cấu trúc của vũ trụ và thân thể con người được tạo dựng nên. Nhưng trước khi các phần tử hoàn thiện thế giới bắt đầu tạo nên những kinh nghiệm khổ đau, hạnh phúc trong các sinh thể, thì chúng tôi phải giới thiệu ý niệm về nghiệp (karma) – đó là những hành vi thiện và bất thiện đã được thực thi và tích lũy trong quá khứ.

Rất khó xác định đâu là nơi mà sự biểu hiện tự nhiên từ tiềm thể của các yếu tố vật lý chấm dứt và đâu là ảnh hưởng của nghiệp – nói cách khác, đâu là nơi mà kết quả các hành vi quá khứ của chúng ta bắt đầu. Nếu các bạn thắc mắc cái gì là mối quan hệ giữa nghiệp và môi trường ngoại giới được hình thành bởi luật tự nhiên, thì đó chính là lúc để giải thích nghiệp là gì.

Trước hết, nghiệp có nghĩa là hành động (actions). Chúng ta phân biệt một loại nghiệp, gọi là ý nghiệp (mental karma), là yếu tố tinh thần từ sự dự tính hay tự nguyện thực hiện.Ngoài ra, còn có thân nghiệp (physical karma), và khẩu nghiệp (oral karma).

 Để hiểu rõ sự liên quan giữa ba nghiệp, thân, khẩu, ý, chúng ta phải liên hệ đến kinh luận của Mật thừa. Trong Thời luân tan-tra (kalacakra tantra), đặc biệt giải thích rằng từ trong thân thể của mình, có thế tìm thấy được sự hình thành từ thô phù đến vi tế và cực kỳ vi tế của năm đại chủng[55] tạo nên bản chất vũ trụ khách quan. Do vậy nên qua cuộc phỏng vấn nầy, tôi tin rằng chúng ta phải quán chiếu kỹ mối liên quan giữa ba nghiệp thân khẩu ý của mình và năm đại chủng (element).

LỜI KHUYÊN CHO PHẬT TỬ PHƯƠNG TÂY

Hỏi: Thưa Ngài, xin Ngài cho chúng tôi, những Phật tử đang tổ chức và phát triển các cộng đồng tu học Phật pháp tại Tây phương, những lời khuyên.

Trả lời: Như tôi thường nói với các đạo hữu của mình, nếu chúng ta muốn giữ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo đã được phát huy qua đời sống của người dân Tây Tạng, thì việc đó hoàn toàn tùy thuộc vào sự tự do ở Tây Tạng. Vì mục đích đó, các bạn đã cùng làm việc chung với nhau rồi, tôi mong các bạn tiếp tục làm việc vì sự tự do của Tây Tạng như vừa qua các bạn đã từng làm.

Chúng ta hãy cố gắng phân biệt hai từ: »Tự do« và »độc lập«. Cách dùng từ »độc lập« có chút tế nhị. Hiển nhiên là tôi đã cố gắng thiết lập sự quan hệ với chính phủ Trung Hoa và bắt đầu có những cuộc đàm phán rất nghiêm túc. Trong suốt 14 năm, tôi đã cố gắng hết sức mình, kiên trì trong cuộc tiếp xúc nầy, và nỗ lực theo đuổi không ngừng để đưa các cuộc đàm phán nầy đến kết quả tốt đẹp thông qua các cuộc thảo luận trực tiếp với chính phủ Trung Hoa.

Tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ của tôi với các bạn nam nữ Phật tử có mặt hôm nay. Trước hết, Phật giáo luôn luôn hài hòa với truyền thống mới, Phật giáo là một tôn giáo trước đây chưa có ở phương Tây. Do đó, rất bình thường khi các Phật tử đã tiếp thu Phật giáo với tinh thần Tây Tạng cũng sẽ thích thú khi được khuyến khích tiếp tục học tập theo một truyền thống tôn giáo khác. Điều nầy hoàn toàn tự nhiên. Tuy vậy, những người đã suy nghĩ rất nghiêm túc khi chuyển sang theo đạo Phật, đó là các bạn đã thay đổi truyền thống tôn giáo, thì rất quan trọng khi nghe những lời cảnh báo nầy. Việc ấy không thể do dự. Thực vậy, nếu một người chuyển đạo mà không suy nghĩ chín chắn, thường sẽ có rất nhiều khó khăn rắc rối dẫn đến sự rối loạn nội tâm. Thế nên tôi muốn khuyên những ai muốn chuyển sang đạo Phật hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định.

Thứ hai, khi một người tin rằng Phật pháp thích hợp với khuynh hướng của người ấy hơn, tin rằng Phật pháp có tác dụng với họ hơn, thì việc chọn lựa tôn giáo nầy hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, tính cách của con người là sau các cuộc thảo luận để phân định, những người nầy thường có khuynh hướng thích phê phán tôn giáo trước đây mình đã theo. Điều nầy phải tránh với bất kỳ giá nào. Cho dù tôn giáo cũ dường như không có gì hấp dẫn hoặc họ có vẻ không yêu thích (đây là lý do để họ thay đổi tôn giáo), đây không phải là lý do chính đáng để phê phán tôn giáo cũ, cho rằng chúng không có tác dụng gì đối với tâm linh nhân loại. Tôn giáo tiếp tục mang đến sự an lành vô biên cho hàng triệu con người. Bởi lý do nầy, là Phật tử, chúng ta phải tôn trọng quyền của người khác, vì những tôn giáo khác đã giúp đỡ rất nhiều cho hằng triệu người. Đặc biệt, chúng ta đang ở trong tiến trình nỗ lực tạo lập và duy trì sự hài hòa toàn diện trong các tôn giáo. Trong những trường hợp nầy, rất thiết yếu phải biết yêu cầu tôn trọng các tôn giáo bạn.

Thứ ba, điểm then chốt trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng là luôn luôn đặt vào sự phối hợp giữa học và tu. Dĩ nhiên, điều ấy xảy ra khi các bạn tự nguyện hiến mình vào việc học nhiều hay ít. Có nhiều người theo đuổi việc học rất nhiều, những người khác hài lòng với một tầm mức giới hạn trong việc học. Bất kỳ trường hợp nào, cơ bản là các bạn không nên cách biệt việc học với việc quán chiếu và thiền định. Các bạn cũng phải hàm dưỡng truyền thống tu niệm, trong đó các việc học, việc quán chiếu và thiền định không thể nào tách biệt nhau được.

Thứ tư, tôi muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tư tưởng không bè phái[56]. Điều nầy đôi khi xảy ra, người ta quy hướng sự phóng đại vào sự quan trọng của một hay nhiều trường phái hay truyền thống khác nhau trong đạo Phật, điều nầy dẫn đến một sự tích lũy vô số hành vi tiêu cực khi nhìn về Pháp (dharma). Sự lợi ích của tư tưởng không giáo phái là sau khi thọ nhận lời khai thị, hoặc lễ điểm đạo[57] và những lời giải thích hợp lý từ mỗi truyền thống tôn giáo khác nhau, chúng ta sẽ có sự hiểu biết về những giáo lý đa dạng. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi, về điều nầy, khi không có tâm niệm nghi ngờ, thì thường có rất nhiều lợi ích. Do đó, nếu ta duy trì tư tưởng không giáo phái, như khi ta thọ nhận giáo lý từ nhiều truyền thống khác nhau, thì hãy suy niệm kỹ về các giáo lý ấy, rồi đưa ra thực hành. Chắc chắn chúng ta sẽ được phát triển sự hiểu biết về pháp. Đây là lý do tại sao tư tưởng không giáo phái rất quan trọng.

Truyền thống Phật giáo Tây Tạng có hai cách tiếp cận đã được nhiều học giả danh tiếng và các đại thành tựu giả[58] vận dụng. Thực vậy, trong khi có người tập trung vào việc học và tu tập về truyền thống, về di sản tâm linh của mình, thì có những người khác lại làm lan tỏa sở học và kinh nghiệm tu tập Phật pháp của mình với quan niệm không giáo phái. Truyền thống nầy đã tồn tại ở Tây Tạng trong số những bậc đại sư, và tôi nghĩ rằng ngày nay, tư tưởng không giáo phái này cực kỳ quan trọng và đó là phong cách Tây Tạng tuyệt diệu nhất để noi theo.

Điều thứ năm tôi muốn nói là trong suốt hơn 30 năm qua, Phật giáo Tây Tạng đã được truyền bá rộng rãi qua các lục địa khác nhau. Các vị Lama[59], Tulku[60] và Geshe[61] đã có nhiều nỗ lực vĩ đại để gieo trồng cho loài hoa Phật giáo Tây Tạng nở rộ khắp thế giới, và được hỗ trợ bởi hằng trăm ngàn môn đồ và học chúng. Trong suốt thời kỳ đó, có một số trường hợp hơi thiếu lành mạnh đã sinh khởi, dẫn đến một số rắc rối. Ban đầu là do niềm tin mù quáng ở một số đệ tử và cũng do một số vị thầy đã lợi dụng sự non yếu của các đệ tử. Đã có nhiều vụ tai tiếng về tài chính và lạm dụng tình dục. Những thứ ấy rồi cũng xảy ra! Kết quả là tôi phải kêu gọi ngay vào thời điểm ấy, rất cần thiết cả đệ tử lẫn thầy phải nhắm đến mục đích tâm linh – hàm dưỡng diệu pháp thanh tịnh. Đó là trách nhiệm của chúng ta, loại tất cả các hành vi bất tịnh nầy vào chỗ cáo chung.

Đức Phật dạy bốn phương pháp để cho môn đệ sống hòa hợp với nhau (tứ nhiếp pháp), bốn pháp nầy bảo đảm cho sự hoàn thiện cho mọi thành viên trong đại chúng. Sáu ba-la-mật(paramita) được thực hành để đạt đến sự hoàn thiện cho cá nhân, còn Tứ nhiếp pháp nhằm đạt đến sự hoàn chỉnh cho toàn thể đại chúng. Từ nhiếp pháp bao gồm trước hết là sự giúp đỡ về đời sống vật chất (bố thí nhiếp), rồi dùng lời nói nhu hòa trong khi giao tiếp (ái ngữ nhiếp), rồi giúp đỡ nhau trong cuộc sống (lợi hành nhiếp) và cuối cùng là ứng dụng sự tương thích giữa lời nói và hành động (đồng sự nhiếp). Trước hết, rất quan trọng khi duy trì điểm cuối cùng (đồng sự) trong tâm mình. Nếu ta không tự chủ được tâm mình, thì rất khó hướng dẫn được tâm ý của người khác. Chúng ta không biết có thể điều khiển tâm ý của người khác hay không, nhưng đó lại là việc ta muốn làm! Bất luận trường hợp nào, điểm thiết yếu cho những người tuyên bố họ muốn giúp ích người khác là họ phải làm chủ được tâm mình. Ngày nay, việc thực hành điều nầy rất quan trọng đối với những bậc thầy, họ được nhắc nhở thường xuyên về giáo lý của Đức Phật, về cách giúp đỡ người khác trong sự hài hòa giữa lời nói và việc làm.

Xin trích dẫn câu ngạn ngữ Tây Tạng. Một đệ tử không nên trao mạng mình cho một vị đạo sư tâm linh »như con chó phó thác mình cho miếng thịt«. Người đệ tử không nên vội vã đặt để niềm tin tức thì vào ngay vị đạo sư, mà nên cần có thời gian quán chiếu sâu sắc và khảo nghiệm phẩm tính của bậc thầy trước khi thiết lập sự an định tinh thần với thầy qua việc thọ nhận sự truyền giáo của thầy. Lợi lạc hơn để tiếp nhận lời dạy của thầy khi nhìn thấy trước và trên tất cả là một người bạn tinh thần. Chúng ta không nên vội vã vừa nghe lời dạy của thầy đồng thời vừa thăm dò. Dần dần, nếu qua việc quán sát, ta tin tưởng đó là một vị đạo sư đích thực, hoàn thiện phẩm chất, xứng đáng tin tưởng, thì chúng ta có thể làm theo lời chỉ giáo và xem đó chính là bậc đạo sư của mình. Chúng ta phải đừng nên vội vã.

Điểm thứ sáu mà tôi muốn đi vào trọng tâm của giáo pháp, có liên quan đến lời kinh chúng ta tụng hằng ngày: »Nguyện cho mọi chúng sinh có được hạnh phúc và nhận ra nguyên nhân tạo ra hạnh phúc nầy«. Đây là những điều chúng ta nên áp dụng trực tiếp bằng cách làm một việc gì có ích cho xã hội, dấn thân vào các hoạt động từ thiện trong cộng đồng, bằng cách nỗ lực giúp đỡ những người gặp khó khăn, chẳng hạn như giúp những người tổn thương tinh thần hay người gặp những nạn khác. Đây không có nghĩa nhất thiết phải dạy cho họ Phật pháp, nhưng tốt hơn là chính mình dùng giáo pháp để cứu giúp mọi người. Tôi nghĩ những hành động trực tiếp giúp người khác là những điều chúng ta cần nên phát huy. Đó cũng là kết quả tự nhiên xuất phát từ lời kinh hằng ngày khác: »Nguyện cho mọi chúng sinh đạt được hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ đau«.

Theo nguyên tắc này, nếu chúng ta mang đến điều thiện, dù chỉ cho một người, nghĩa là chúng ta đang hoàn thành lời nguyện ta vừa phát ra. Hơn thế nữa, toàn thể đại chúng trong những trung tâm Phật học nên tham dự vào các hoạt động xã hội bằng cách giúp đỡ cho những người khác và tôi nghĩ đây là điều rất quan trọng đối với vấn đề hoạt động của các trung tâm Phật giáo nầy.

Đối với người Phật tử, ăn chay không phải là sự cưỡng chế. Tuy vậy, đối với chúng ta, những người theo truyền thống Đại thừa, thì rất quan trọng. Nhưng lời dạy của Đức Phật về vấn đề nầy rất rộng rãi và uyển chuyển, các tham dự viên có quyền chọn lựa trở thành người ăn chay hay không. Nhiều cuộc hội họp lớn thỉnh thoảng được tổ chức ở các trung tâm Phật giáo, khi có các cuộc lễ hội hay các buổi thuyết pháp, tôi nghĩ nếu có nhiều người cần được phục vụ ăn uống thì việc chỉ phục vụ cho họ thức ăn chay trong suốt thời kỳ lễ hội là rất quan trọng.

Điều thứ bảy: Chúng ta thường tụng lời kinh: »Nguyện cho Phật pháp được truyền bá sâu rộng«. Nếu Tây Tạng giành lại được tự do, điều nầy chắc hẳn sẽ giúp cho sự hoằng truyền Phật pháp được sâu rộng, gồm cả Tiểu thừa, Đại thừa cũng như cả Mật thừa. Cho nên có một sự liên hệ mật thiết giữa nền tự do của Tây Tạng với sự hoằng truyền Phật pháp trên thế giới. Nếu sự kiện nầy không phải là vấn đề, nếu vấn đề cơ bản, tự do của Tây Tạng đơn giản chỉ là tiêu điểm chính trị, thì với tư cách là một tăng sĩ, một đệ tử Phật, tôi chẳng có lý do gì để có sự liên hệ như thế. Nhưng hai phương diện đều có sự liên kết rất chặt chẽ.

Dù ngay khi tôi tán trợ việc giải trừ quân bị ở Tây Tạng, tạo thành khu vực hòa bình, mặc dù thuật ngữ »giải trừ quân bị« chẳng phải là thuật ngữ Phật học, tuy nhiên dự án đó liên hệ rất mật thiết với Phật pháp. Rất nhiều người trong số các bạn ở đây là đại biểu và thành viên của nhiều trung tâm Phật giáo, đều là trong số những người đã tham dự vào phong trào tự do cho Tây Tạng. Tôi xin cảm ơn quý vị và mong quý vị tiếp tục nỗ lực, giữ trong lòng sự liên quan giữa Phật pháp và sự tự do của Tây Tạng, để ban tặng sự thực hành ý nguyện giáo pháp được hoằng truyền và phát triển sâu rộng.

Mục đích cuối cùng của tôi: các bạn phải giữ cho tâm mình an lạc và biết cách mỉm cười.

 

CƠ ĐỐC GIÁO VÀ PHẬT GIÁO

MƯỜI HÀNH VI ĐẠO ĐỨC TRONG ĐẠO PHẬT

Ý NGHĨA SÁM HỐI

 

Hỏi: Thưa Ngài, vừa rồi Ngài viếng thăm các nơi thánh tích Thiên chúa giáo. Ngài có mong một ngày nào đó, Ngài đến Jerusalem[62] hay Mecca[63] hay không?

Đạt-lại Lat-ma: Tôi rất thích thú chuyến đi hôm nay, với tư cách cá nhân, đến chiêm bái thánh tích tại Lộ-đức (Lourdes), trái tim của cuộc hành hương mà tôi đã từng được nghe. Tôi rất xúc động. Dĩ nhiên tôi đang chú tâm vào việc phụng sự và tham gia vào việc trao đổi sự hòa nhập các tôn giáo trong một thời gian đã lâu. Trong suốt hai năm tôi hoạch định một chuyến hành hương chủ yếu đến những thành tích tiêu biểu của các tôn giáo khác nhau. Khi chúng tôi đến chiêm bái, chúng tôi cảm nhận được sự an lạc từ bầu không khí ở nơi đó, chúng tôi đã cùng nhau cầu nguyện, hoặc là chúng tôi chỉ ngồi thiền và cùng tạo nên sự cảm thông tư tưởng với nhau trong im lặng. Chúng tôi đã thực hiện việc nầy ở Ấn Độ, và nay lại có được sự an lạc lần nữa tại nơi đây. Tôi tin những quang cảnh nầy sẽ đánh thức trong ta cảm giác dung thông và hiểu biết sâu sắc hơn, đằm thắm hơn sự cảm nhận đơn giản qua tri thức. Tôi rất thích được khởi đầu một cuộc hành hương như thế này đến Jerusalem và Mecca, nhưng tôi chưa biết khi nào có được mọi điều kiện để cho phép tôi đến đó.

Hỏi: Có phải Ngài và các đại biểu tôn giáo khác đã cùng thảo luận những tiết mục về sự cải đạo từ tôn giáo nầy sang một tôn giáo khác, đặc biệt là các hình thái khác nhau giữa đạo Tin lành, Cơ-đốc giáo hoặc ngay cả Phật giáo ở nước Pháp?

Đạt-lại Lat-ma: Trong cuộc gặp gỡ riêng, với tôi, một người Cơ-đốc giáo  trích dẫn một đoạn văn khắc trên đá của vua A-dục,[64] nói về lòng khoan dung đối với tín đồ tôn giáo bạn có thể hoán chuyển niềm tin tôn giáo của riêng họ. Thực vậy, sự hưng thịnh của một tôn giáo là do sự quan tâm đến lòng kính trọng các tôn giáo khác.

Hỏi: Ngài nghĩ gì về sự gắn bó vừa chớm nở giữa người Cơ Đốc giáo phương Tây và Trung Hoa?

Đạt-lại Lat-ma: Tín đồ Cơ-đốc giáo  thường không có nhiều ở Trung Hoa, và họ cũng bị đau khổ như những giới khác. Hơn thế nữa, sự thiếu thông tin do thể chế chính trị đôi khi hạn chế tầm nhìn của họ về cục diện thế giới. Do đó, tôi nghĩ rằng bất kỳ một cuộc đối thoại nào đó được thiết lập giữa những người Cơ-đốc giáo  ở ngoài nước Trung Hoa đều có thể giúp cho tâm thức của họ tự nhận ra được thực tại của thế giới.

Hỏi: Ngài có cho rằng một người có thể vừa theo Cơ-đốc giáo, vừa là Phật tử trong cùng một lúc không?

Đạt-lại Lat-ma: Tôi... (trước đây đã có nói – xem phần trước) xin nhắc lại vấn đề nầy một cách gián tiếp, khi tôi nói rằng tin vào một đấng sáng tạo, là nên hiểu trong sự tương quan với nhận thức về tính không[65]. Tôi tin là có thể phát huy đời sống tâm linh trong tinh thần hợp nhất Cơ-đốc giáo  và đạo Phật. Nhưng một khi đạt được một tầm mức nhận thức nhất định, thì việc chọn lựa giữa hai con đường sẽ trở nên rất cần thiết. Tôi vừa giảng một loạt đề tài về kham nhẫn và khoan dung ở Hoa Kỳ. Cuối khóa giảng là buổi lễ phát nguyện thọ Bồ-tát giới. Một vị linh mục dự khóa giảng đã xin thọ giới Bồ-tát trong dịp nầy. Tôi hỏi vị linh mục đã suy nghĩ chín chắn chưa. Ông ta đáp: Rồi. Dĩ nhiên là vị linh mục ấy được thọ giới Bồ-tát  nhưng vẫn là một tín đồ Cơ-đốc giáo.

Hỏi: Lời của Chúa Giê-su: »Hãy yêu thương đồng loại...« là thông điệp dành cho chúng tôi, những người Cơ-đốc giáo. Còn thông điệp của Ngài cho nhân loại khi Ngài tiếp xúc với mọi người là gì?

Đạt-lại Lat-ma: Yêu thương đồng loại của mình, lòng từ bi. Những điều nầy, tôi tin đó là những yếu tố phổ quát và tinh yếu đều được các tôn giáo thuyết giảng. Mặc dù có nhiều sự giao thoa của các quan điểm triết học, nhưng chúng ta có thể thiết lập sự hài hòa giữa những truyền thống tâm linh trên nền tảng đặc điểm chung về lòng Từ bi và lòng khoan dung độ lượng. Tôi luôn luôn chú tâm vào tinh thần nầy và nguyện đặt hết tâm lực vào đó. Hầu hết những vấn đề rắc rối giữa các tôn giáo là do những người đã thất bại trong việc tự chuyển hóa mình để có được sự an lạc nội tâm, không những họ chỉ ứng dụng niềm tin cho riêng họ mà còn áp đặt mọi hoàn cảnh cho mọi người khác. Hành vi tệ hại nầy làm khơi dậy những xung đột nghiêm trọng, mặc dù tôi đã lưu ý hãy quan tâm đến việc tái tạo sự hòa hợp giữa các tôn giáo, đặc biệt là giữa Phật giáo Tây Tạng và Cơ-đốc giáo. Chúng ta phải thực sự lập một chương trình hữu ích, được trao đổi giữa giới tu sĩ của hai tôn giáo.

Hỏi: Mười hành vi đạo đức trong Phật giáo là gì?

Đạt-lại Lat-ma: Ba điều liên quan đến thân: không được giết hại, không trộm cắp và không tà hạnh dâm dục.

Bốn điều liên quan đến lời nói: không được nói dối, không nói xấu để hạ uy tín người khác, không nói lời thô lỗ, cộc cằn, gây nên chống trái; không nói những chuyện phù phiếm, những chuyện liên quan đến mọi thứ được diễn đạt trong sự ảnh hưởng của cảm xúc ái luyến.

Ba điểm cuối cùng là thuộc về tâm ý: không phát triển lòng tham, không để cho sự mong muốn thôi thúc hãm hại kẻ khác phát khởi và cuối cùng không được duy trì quan điểm sai trái trong tâm, chẳng hạn như những quan niệm cực đoan, như chủ nghĩa hư vô, đoạn diệt; hoàn toàn chối bỏ sự hoàn thiện tâm linh.

»Tà kiến« mà tôi nói đến thường bao gồm cả những chủ trương cực đoan, thường kiến và chủ trương đoạn diệt (đoạn kiến). Nhưng trong phạm trù 10 hành vi đạo đức Phật giáo, chỉ có quan điểm hư vô đoạn diệt là được đề cập đến. Vậy nên trên nền tảng đời sống giới luật đạo đức, người ta tránh xa việc vi phạm các hành động xấu ác, tức là 10 hành vi đạo đức. Khi đối diện với thực trạng có thể vi phạm những việc xấu ác nầy, các bạn mới có ý thức kiêng cử để khỏi phạm vào. Một đời sống lập cước trên nguyên tắc đạo đức đã tự có trong đó ý hướng khước từ 10 hành vi bất thiện với khuynh hướng hành động trái ngược với điều bất thiện ấy.

Hỏi: Nếu chúng ta phạm phải hành vi bất thiện nghiêm trọng, chúng ta phải theo pháp sám hối như thế nào?

Đạt-lại Lat-ma: Trong trường hợp như thế, thường có nguy cơ về mặc cảm tội lỗi và do vậy thường gây nên sự chán nản. Quan điểm Phật giáo khuyên nên áp dụng một suy nghĩ và hành vi nào đó để khơi dậy lại năng lực tự tin nơi mình. Một người Phật tử sẽ quán chiếu vào bản tâm Phật, vào thể tính vốn thanh tịnh của mình, và trong đó, vọng tưởng và các thứ tùy phiền não đều mang một tính chất khác biệt. Vì những vọng tưởng phiền não nầy đều là khách không mời mà đến, nên nó sẽ bị tiêu trừ. Quán chiếu về năng lực tiềm ẩn sâu kín mênh mông bên trong tự tâm mình, mới nhận ra được tự tính của tâm tuyệt đối thanh tịnh và từ bi. Trầm tư vào cõi giới chiếu diệu của tâm, sẽ khiến ta phát triển tính tự tin và lòng dũng cảm.

Đức Phật dạy rằng sự giác ngộ hoàn toàn và con người toàn năng, mà chúng ta xem là Đấng siêu việt, không phải từ trong lòng đất sinh ra, cũng chẳng từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của sự thanh tịnh hóa tâm linh. Những vị ấy cũng đã từng có một lần đau khổ phiền muộn như chúng ta bây giờ, các vị cũng có những yếu đuối và cũng có những bất toàn của con người phàm phu. Chính Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trước khi giác ngộ, đã trải qua vô số lần thọ sinh trong những kiếp sống khổ nhọc hơn chúng ta hiện nay rất nhiều. Nhận ra được điều nầy, với tất cả sự trân trọng, bản tâm thanh tịnh viên mãn của mình chính là chất thuốc giải độc cho những mặc cảm tội lỗi, cho sự hờn giận và sự thất vọng. Trong »Bảo hành vương chính luận«[66], Bồ-tát  Long Thọ nói rằng bi quan thất vọng không bao giờ giúp ta tìm được giải pháp tốt để hóa giải mọi vấn đề. Ngược lại, sự kiêu mạn chính là một thói xấu. Nhưng để phô bày nó như một chất hóa giải cho phong cách khiêm tốn thì sẽ có khuynh hướng đẩy đến tình trạng thiếu tự tin, mở cánh cửa cho sự chán nản và nhụt chí di vào, chỉ làm chúng ta đi từ cực đoan nầy đến cực đoan khác.

Tôi muốn nói rõ một điều, những ai muốn có một kỳ nhập thất ba năm với hy vọng và mong mỏi rằng mình sẽ được chứng ngộ mà chẳng gặp chút khó nhọc gì cả, thì điều nầy có thể biến thành tai họa, trừ phi các bạn tự xem đó là một dự định nghiêm túc nhất. Nếu các bạn tự đánh giá quá cao sự mong mỏi của mình và quá tự tin, thì các bạn sẽ phải đối đầu với nỗi buồn do bất như ý và ảo tưởng bị phá vỡ. Khi các bạn quán chiếu sâu vào những lời Đức Phật dạy – tính giác toàn mãn là kết quả của sự thanh tịnh hóa tâm linh và do tích lũy thiện nghiệp cũng như trí tuệ từ vô số kiếp – chắc chắn tính dũng mãnh và kiên định sẽ đồng hành với các bạn trên con đường tu đạo.

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VỀ TÂM THỨC

 

Hỏi: Được biết trong tôn giáo của Ngài có một cảnh giới thanh tịnh sáng suốt và có những tường thuật của những người đã chứng nghiệm được cảnh giới thanh tịnh vi diệu của tâm. Câu hỏi của tôi gồm có hai phần:

Thứ nhất, Ngài có nghĩ rằng cảnh giới không thể nhận thức của tâm, có thể nào trên lý thuyết, cảnh giới ấy được quán sát bởi các thiết bị bên ngoài chăng? Chẳng hạn, nếu chúng ta đưa một thiền giả đã đạt đến cảnh giới thanh tịnh sáng suốt của tâm vào trong một thiết bị máy móc hiện đại, do sức xung động của lực hấp dẫn, dùng kỹ thuật tân tiến ghi lại sự rung động của não (brain imaging), liệu chúng ta có thể thấy được dấu hiệu nào đó về cảnh giới tâm vi diệu nầy không? Có lẽ chúng tôi chưa biết làm sao để tiến hành thử nghiệm nầy, nhưng, trên lý thuyết, Ngài có cho rằng cuộc thử nghiệm nầy có thể đạt kết quả không? Nếu được vậy, theo Ngài, mối liên hệ giữa hai khía cạnh, thô trọng và vi tế là gì trong phạm trù tương duyên (interdependence)? Chúng tôi không muốn bị thuyết phục bởi một thuyết nhị nguyên mới về ý niệm thô trọng và vi tế. Bản chất của sự tương quan nhân quả giữa hai ý niệm nầy (thô trọng và vi tế) là gì?

Đạt-lại Lat-ma: Tôi cho rằng có lẽ khó mà đo được hoạt động đặc biệt của tâm trong sự quán chiếu về tâm như một khách thể và nhận biết về chúng. Nhưng khi những kinh nghiệm của tâm thức thô trọng trình hiện trong xung động của não bộ thì do đó, có thể quan sát như nó đang là. Đối với tôi, dường như điều ấy cũng cần phải có khả năng nghiên cứu sự biểu hiện vật lý của cảnh giới tâm vi tế. Cảnh giới vi diệu của tâm có liên quan đến thuật ngữ »điểm linh quang«, xuất hiện trong những sinh thể khác ngay tại thời điểm chết. Những người đã thực tập trạng thái nầy từ trước có thể duy trì trạng thái nầy vài ngày sau khi chết, và trong suốt thời gian duy trì trạng thái vi diệu ấy, thân thể họ không bị tan rã. Thiết bị khoa học hiện đại có thể được dùng để quan sát hiện tượng nầy, và thực tế, việc nầy đã xảy ra ở Ấn Độ. Mặc dù theo tôi, dường như khó có thể quan sát bản tâm vi diệu khi dùng toàn thể phương pháp hiện đại nầy. Tôi nghĩ là tất cả những sự kiện tương tự có lẽ sẽ cho chúng ta một ý kiến.

Để trả lời câu hỏi thứ hai, liên quan giữa tâm thức thô trọng và tâm vi diệu, các bạn phải biết rằng tầng mức vi tế của tâm sẽ tùy thuộc vào một phần trong bình diện vi tế của thân và tùy thuộc vào quy luật riêng biệt của nhân duyên, là sáu giác quan. Nhưng các căn đều được chia sẻ bởi toàn bộ các nhận thức – quán sát vật thể và nhận biết về chúng lại đến từ tâm vi tế. Theo cách nầy, có thể hiểu ra được mối liên hệ cơ bản tồn tại giữa tâm vi tế và tâm thô trọng.

Giác quan và ý thức hiện khởi tùy thuộc vào các quy luật của nhân duyên, đặc biệt, cho mỗi một trong sáu căn: nhãn căn dẫn đến nhãn thức, ý căn dẫn đến ý thức... Vì tính chất thô trọng của phần nương tựa của thức tâm lớn hơn, nên các giác quan nhận thức có liên quan đến phần thô trọng được so sánh với ý thức. Cũng vậy, tất cả đều có năng lực quán chiếu khách thể và nhận biết về nó, một năng khiếu lưu xuất từ cơ sở ẩn tàng sâu kín, đó là tâm vi diệu, là điểm linh quang. Kinh văn Phật giáo Mật thừa luận giải nhiều về tính cách mà tâm trọng trược liên kết với vi diệu tâm. Trong đó giải thích rằng có 80 trạng thái tâm thức tương ứng với bốn giai đoạn hội nhập của tâm trọng trược vào tâm vi diệu, chẳng hạn trong tiến trình chết. Sự liên kết giữa các tầng mức của tâm đã được minh họa rõ qua kinh văn, nhưng đó là một chủ đề rất phức tạp khó có thể thâm nhập đến trọng tâm được.

 

 

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VỀ THỰC TẠI

VÀ TÍNH TƯƠNG DUYÊN

 

Hỏi: Vài năm trở lại đây, tập thể các nhà vật lý đã bày tỏ sự tăng cường quan tâm đến những vấn đề liên quan đến nhận thức về thực tại, lĩnh vực dường như ngoài tầm tay của các nhà khoa học, cho dù  đã có sự chính xác và sức mạnh lớn lao về dự báo cho một lý thuyết mới, như vật lý lượng tử (quantum physics).

Thông thường, một nhà vật lý không chỉ tìm kiếm sự tường trình về việc xuất hiện và tương tục nhân quả của một sự kiện, mà còn hoàn thiện một cách tri thức để hiểu được cái gọi là »tự tính«. Sự sáng tạo của chúng ta dường như tùy thuộc khá lớn vào điểm nầy. Để hoàn thiện sự hiểu biết nầy, chúng ta tạo nên những biểu tượng thông qua những thuật ngữ: nguyên tử, hạt, lực, năng lượng, không, thời...

Phật giáo bao gồm rất nhiều kinh văn liên quan đến bản chất của hiện tượng giới, đề cập về thực tại của các hạt nguyên tử, thể tính của không gian và thời gian. Xin Ngài giảng giải cho chúng tôi biết tại sao giáo lý đạo Phật rất chú trọng vấn đề nầy? Ngài có cảm thấy điều đó quan trọng đối với các nhà khoa học trong quá trình khảo sát sự tương quan về những giải thích được tìm thấy trong triết lý Trung đạo, bác bỏ sự tồn tại trên cơ sở tự tính của hiện tượng không?

Đạt-lại Lat-ma: Đây là lý do tại sao các môn đệ của trường phái nầy thường phát biểu những lời phủ định, họ bác bỏ những kết luận xác định và chỉ thừa nhận những gợi ý phủ định. Môn đệ của trường phái Kinh lượng bộ[67] chủ trương rằng một hiện tượng nào đó, chẳng hạn như sự phủ định, chỉ là sự quy ước, mô tả về nhận thức không mạch lạc. Đây là trường hợp, ví dụ như không gian, gồm hiện tượng kép tách biệt hẳn với sắc và tâm hay tách bạch hẳn với cá nhân con người. Để nói rằng, ý nghĩa quy định ở đây với thuật ngữ »mệnh danh« hoặc »quy ước« có khác biệt chút ít so với trường phái Trung quán. Theo trường phái nầy, các hiện tượng chỉ tồn tại chỉ bằng sự »mệnh danh« và »quy ước« mà thôi.

Theo trường phái Duy thức[68] bất luận trong vấn đề nào, khi ta nói về sự duy danh căn bản trên sự mô tả hay mệnh danh về »sắc« áp dụng cho một vật thể, hoặc rốt ráo về ý niệm cơ bản của nhận thức biểu tượng về sắc như là hình thể – sắc chất đã được biết là không tự tồn tại độc lập, theo tính cách riêng biệt nội tại. Tuy nhiên, nếu ta xem xét lại trong truyền thống Y tự khởi Trung quán tông[69] trước đây, như ý niệm cơ bản về nhận thức biểu tượng để hiểu được nó, được tồn tại bởi đặc tính riêng của chính nó.

Đến mức nầy, các trường phái Phật giáo đều chủ trương rằng các hiện tượng đều có một hiện hữu tuyệt đối. Tuy nhiên, các môn đệ của Trung quán tông lại bác bỏ sự hiện hữu tuyệt đối của các hiện tượng. Trong số môn đệ nầy, thuộc hệ phái đầu tiên Y tự khởi Trung quán tông (svatantrika), cho rằng các hiện tượng hiện hữu một cách quy ước, theo cách riêng của nó. Một hệ phái khác, Ứng thành Trung quán tông (prasangika)[70], chủ trương rằng ngay cả các hiện tượng quy ước cũng không hiện hữu thông qua đặc tính riêng của nó. Các trường phái đều chấp nhận vô ngã (non-self), nhưng phương cách mà các hệ phái nhận thức ngày càng phát triển vi tế hơn.

Một vấn đề được đặt ra. Nếu với »thực tại« (reality) mà ta nói đến, một khi ta đã tìm cách định danh một vật thể, nó đã được an lập và tự thân nó đã hoàn chỉnh, thế thì triết học Phật giáo từ chối sự hiện hữu như thực tại chẳng hạn. »Thực tại« không hiện hữu, vậy mà nếu chúng ta định nghĩa »thực tại« như là một cảnh giới, nơi mà, mặc dù chúng ta không thể nhận ra ý niệm khách thể như khi ta tìm kiếm nó, tuy nhiên chúng ta chấp nhận sự hiện hữu của »thực tại« ấy như một danh hiệu. Trung quán luận của triết học Trung quán đặt một dấu ấn vĩ đại trên sự hóa giải hai cực đoan nầy.

Những gì mà khoa học gọi là không thể nhận thức được  đều  có liên quan ít nhiều đến lĩnh vực có từng phần không định hình được và hạn cuộc trong khái niệm.  Vì chính giáo pháp cũng chưa đủ yếu tố để khẳng định sự hiểu biết về ngã là sai lầm,[71] và cái ngã tự động sẽ biến mất một khi chúng ta hiểu được đối tượng của nhận thức sai lầm ấy không còn hiện hữu nữa. Chúng ta phải giải trừ nhận thức sai lầm về bản ngã của ta, đó là, sự hiểu biết về ngã, và hoàn toàn vô ích khi nhận thức về ngã như là một định danh đơn thuần. Tại sao vấn đề lại dẫn đến rắc rối như thế?

Như tôi đã giải thích vắn tắt trong đoạn trước, từ nhận thức sai lầm nầy, một cái nhìn cường điệu về bản ngã sẽ sinh khởi, cái bản ngã đã tách xa với »thực tại«. Từ điểm đó, ta có thể phân chia thế giới thành hai: một bên là mọi việc phải làm với bản ngã, và bên kia là những thứ khác. Chúng ta cảm thấy nghiêng về phía thứ nhất và đối nghịch với phía thứ hai. Rõ ràng là phải làm suy yếu sự vướng mắc và đối nghịch ấy đi trong cố gắng hóa giải nhận thức sai lầm về bản ngã.

Trường phái Trung quán đưa ra một nguyên lý để giải trừ hai cực đoan thường kiến và đoạn kiến (hư vô chủ nghĩa). Nếu chúng ta không giải trừ được cực đoan thường kiến, thì có nghĩa là ta không thể giải trừ được nhận thức sai lầm về bản ngã. Ở cực đoan khác, đoạn kiến hoàn toàn từ chối sự hiện hữu của ngã. Nếu chúng ta không giải trừ cực đoan ấy bằng cách chắc chắn đạt được sự nhìn nhận về các phương diện thiện và ác của một hành vi và người tạo tác trên bình diện quy ước, thì cũng vậy, chúng ta sẽ từ khước luật nhân quả, và đó là điều ta không thể đồng hóa được. Bằng cách bác bỏ cực đoan đoạn diệt, ta mới hiểu được bất kỳ tác nhân nào, nhất thiết đều phải nhận chịu kết quả từ chính hành vi của nó. Bằng cách bác bỏ cực đoan thường kiến, chúng ta tránh được hiểu biết cường điệu về bản ngã. Đây là luận giải từ Trung quán luận của Trung quán tông. Tóm lại, chúng ta phải nỗ lực giải trừ nhận thức sai lầm của bản ngã và tăng cường củng cố quan niệm đúng đắn về ngã, không cần phải tự buộc mình vào giới hạn nghiêm khắc trong thứ hiểu biết có tính chất tri thức về những ý niệm nầy. Một khi chúng ta đã hiểu được điều nầy, chúng ta phải tiếp tục quán chiếu và thiền định trên đề tài nầy để có thể làm hiện khởi sự chuyển hóa thực sự ở nội tâm. Những ý niệm nầy sẽ rất lợi lạc cho chúng ta, như bản tâm thanh tịnh sẽ dần dần trở nên quen thuộc trong ý niệm đó.

Hỏi: Như Ngài vừa nói, cách đây vài phút, cảm xúc có thể là nguồn gốc của khổ đau. Ngài có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về bệnh tật, đặc biệt theo tinh thần Phật học không? Phải chăng bệnh tật là dấu hiệu của sự bất thường trong con người? Đó là hành vi sinh học hay tâm lý? Hay là một trục trặc về thân dẫn đến trục trặc tâm lý? Phải chăng thông thường đến một thời điểm nào đó trong đời, người ta sẽ trở nên bệnh hoạn? Và cách can thiệp của y khoa vào những trường hợp nầy phải nên như thế nào? Có nên tìm cách lập lại sự bất bình thường đó bằng mọi phương tiện có thể được để giúp cho con người được sống không?

Đạt-lại Lat-ma: Với cái nhìn về các trạng thái của tâm như là »cảm xúc«, chúng ta nên phân biệt hai trạng thái tích cực và tiêu cực. Chẳng hạn, chúng ta gọi những tình cảm như lòng từ bi, tình yêu thương là những cảm xúc tích cực. Nhưng điều nầy lại tương tự như khi nói về bản tâm của chư Phật, vì bản tính bình đẳng lưu xuất từ tâm của các ngài. Không nên nhầm lẫn điều nầy với sự xác lập mà chư Phật luôn luôn quán chiếu trên tính không (emptiness). Một khi thể nhập vào Phật tính, thì sẽ không còn bất kỳ một biểu tượng hay bất kỳ vọng thức tản mạn nào nữa cả. Điều còn lại chỉ là điều trực nhận về tính không. Nhưng khi các Ngài dùng trí tuệ quán chiếu về tính không thì tất cả phẩm chất như tình thương và lòng từ bi đều được biểu hiện từ tâm của chư Phật.

Còn về trạng thái tiêu cực của tâm, chúng ta sẽ đề cập đến ba món độc chính yếu[72] (kleśa)– những cảm xúc gây nên tình trạng phiền nhiễu – nói đơn giản là những độc tố của tâm), gồm tham, sân và si. Đứng trên phương diện tu tập của đạo Phật, những yếu tố phiền não, hay độc tố tinh thần nầy chân thực là bệnh hoạn tinh thần. Nhưng chúng ta không thể chữa trị tình trạng ốm yếu nội tâm nầy cho đến khi ta có được tự do. Trước khi đạt được tự do, ta vẫn có thể nói về bệnh hoạn ít nhất là trên bình diện vi tế.

Thông thường, xã hội chúng ta xem một người hoàn toàn khỏe mạnh khi tâm của họ không bị phiền muộn hay quấy nhiễu bởi ba dạng phiền não của tâm, ngay cả khi những yếu tố tiêu cực nầy còn lưu giữ trong tâm thức người ấy. Tuy vậy, phiền não vẫn xảy ra, dưới ảnh hưởng ba độc tố của tâm, tâm bị quấy động dữ dội, rồi rơi vào mê muội. Đến đây ta có thể gọi tình trạng đó là khủng hoảng tinh thần. Chúng ta phân biệt hai tầng mức khủng hoảng tâm linh: thô và tế, cả hai đều có thể liên quan đến thân bệnh. Bởi lý do nầy, y khoa Tây Tạng nhìn một bệnh nhân qua một thực thể toàn diện. Đánh giá tình hình không chỉ vào thân mà cả về tâm của họ. Đây là lý do có người đã chữa trị khủng hoảng tâm linh bằng cách phối hợp phương pháp tâm lý trị liệu của phương Tây với phương pháp của đạo Phật. Tôi cho rằng đây là một liệu pháp tuyệt hảo.

Bây giờ, ta nên có phản ứng gì với bệnh tật? Hoàn toàn dĩ nhiên khi mọi chúng sinh đều ước nguyện được hạnh phúc và họ có đủ mọi cách chính đáng để tìm kiếm sự hạnh phúc ấy. Cùng một lúc, họ ước ao không bao giờ bị phiền nhiễu bởi bệnh tật hay bất cứ dạng đau khổ nào. Chúng ta phải cố gắng ngăn ngừa bệnh tật và trong hoàn cảnh nầy, tránh sự can thiệp của y khoa là khôn ngoan nhất. Chúng ta phải cố gắng ngăn ngừa bệnh tật bằng mọi cách. Nếu mặc dù ta đã cố gắng hết sức, nhưng một nhân duyên nào đó dẫn ta đến đau khổ và bệnh tật, thì ta phải cố gắng quán chiếu rõ ràng và không nên rước thêm nỗi lo âu vào nỗi đau của mình.

Hỏi: Chúng tôi có được cơ hội độc đáo để khảo sát cùng đức Đạt-lại Lạt-ma những vấn đề liên quan đến trọng tâm của kỹ thuật thực hành từ quan điểm về tương duyên (interdependence). Trước khi vào cuộc thảo luận, xin Ngài giải thích sơ lược về tính tương duyên trong triết học Phật giáo và điều gì Ngài hy vọng sẽ đạt được thông qua cuộc hội thảo khoa học nầy?

Đạt-lại Lat-ma: Tôi đã học được rất nhiều điều khi tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc mọi ngành và được lợi lạc rất nhiều từ cuộc gặp gỡ nầy. Chắc hẳn các luận giải Phật giáo cũng đã chứng minh sự hữu ích nầy cho các nhà khoa học, một khi các vấn đề đó kích thích họ quán sát các điểm đặc sắc từ các viễn cảnh khác. Hầu hết quý vị, tôi tin rằng đều đã quá quen thuộc với lối tiếp cận Phật học cơ bản, đặc biệt là với Phật giáo Đại thừa, truyền thống mà khởi đầu ta nên có hoài nghi để rồi thăm dò, khảo sát các vấn đề, và cuối cùng chấp nhận tư tưởng đó một khi đã tin tưởng sự xác thực của tư tưởng ấy. Ngay cả chúng ta còn có được quyền, dĩ nhiên, vì chúng ta là Phật tử, với lòng kính trọng cao nhất, để từ chối lời dạy của đức Phật, nếu sự khám phá của mình tìm thấy có điều mâu thuẫn. Như các bạn thấy, chúng ta, đều ở trong một tình thế tự do để có ý thức phê phán, ngay với cả triết lý của riêng mình.

Với quan điểm đó, tôi thấy chẳng có gì chướng ngại khi tham gia thảo luận với các nhà khoa học hoặc ngay cả với các nhà duy vật cực đoan (radical materialists). Mặt khác, đây là một sự kiện rất tuyệt. Thêm nữa, đó là, theo kinh nghiệm của tôi, có một vài ý tưởng cần nên được thừa nhận. Kết quả là tiến trình lý luận của ta vẫn còn chưa đủ. Những vấn đề phê phán khiến chúng ta suy nghĩ về chủ đề liên quan, do vậy nên rất hữu ích. Đối với những ai trưởng thành trong văn hóa Phật giáo, đã có một số ý niệm rõ ràng về vấn đề nầy. Bởi vì đôi khi chúng ta quên bẵng việc theo đuổi một mạch các lý luận phức tạp để dẫn đến kết luận. Đây là lý do tại sao các vấn đề nảy sinh bởi các thành viên thuộc các truyền thống triết học đa dạng, họ đã giúp chúng tôi mường tượng ra những vấn đề nầy theo một phương cách mới.

Để bắt đầu, tôi sẽ trình bày vắn tắt quan điểm Phật giáo về tính »tương duyên«. Chúng ta có thể hiểu nguyên lý nầy, cũng còn được gọi là »sự sinh khởi tùy thuộc«, ở tầm mức khác, bắt đầu với tương quan nhân quả. Tất cả bốn trường phái triết học Phật giáo[73] đều chấp nhận luật nhân quả. Có một phương cách khác để hiểu nguyên lý nầy, đó là nhìn vào mối liên quan với sự kiện mà toàn thể đều tùy thuộc vào từng phần của chính nó. Thực vậy, bất kỳ một hiện hữu nào đều được xem như là một toàn thể, đó là, hợp thể của nhiều bộ phận. Do vì nó cấu thành bởi nhiều bộ phận, nên nó tùy thuộc vào các bộ phận ấy. Sự hiện hữu của nó tùy thuộc vào từng bộ phận và nó không thể hiện hữu trong tình trạng độc lập tự chủ được.

Để có một giảng giải rõ hơn về nguyên lý tương duyên, chúng ta phải đặt nguyên lý ấy trong phạm trù kinh luận Phật học về thực tại. Trước tiên, tất cả mọi hiện tượng hiện hữu, hoặc là thường hoặc là vô thường, không thể có trường hợp thứ ba. Trong hiện tượng vô thường, chúng ta thấy có hiện tượng vật chất, cũng được gọi là »sắc- form«, và mặt khác, phần hiện hữu phi vật chất, được gọi là hiện tượng về tâm (tâm pháp) là hiện tượng trừu tượng, được gọi là »hiện tượng song trùng hợp thể của sắc và tâm«. Tính tương duyên của hiện tượng vật chất được xác định trong sự liên quan với không gian, hiện tượng như vậy tùy thuộc vào nhiều chiều. Tính tương duyên của hiện tượng phi vật chất được mường tượng trong sự tương quan với thời gian hoặc ngay cả tùy thuộc vào chiều không gian. Tâm, chẳng hạn, là sự tương tục của nhiều khoảnh khắc, chúng ta gọi đó là sự tương tục của niệm tưởng. Chúng ta nói về hiện tượng song trùng bị tách rời giữa sắc và tâm, thì nó vẫn tùy thuộc vào các chiều. Như chính không gian vốn không có cặp đối lập, mà ta còn nói không gian phía Nam, không gian phía Đông...

Tôi vừa trình bày nguyên lý tương duyên một cách tổng quát theo tư tưởng Trung quán  thuộc trường phái Trung đạo, gồm hai hệ phái,[74] trong đó hệ phái Ứng thành (consequentialists) thì cao cấp hơn. Trường phái nầy  bổ sung giải thích vi tế hơn về sự hiện hữu được hiểu là »sự sinh khởi tùy thuộc« – về cái »không thể nhận thức được«, »không thể phát hiện ra được« của bất kỳ vật thể nào tồn tại trên danh tướng. Nói cách khác, khi thông qua phương pháp phân tích để tìm kiếm thế giới hiện tượng đằng sau sự trình hiện của nó, thì đó là không thể nào tìm thấy được. Tuy nhiên, nếu nói rằng những cái-đang-là đều không thể tìm thấy được sau khi được tìm tòi thông qua tiến trình phân tích, thì liệu rằng chúng ta có nên kết luận không tồn tại được không? Để từ bỏ quan điểm hư vô (đoạn diệt) nầy, chúng ta sẽ trả lời với phạm trù »không«. Hiện tượng giới tồn tại không phải bằng một cách độc lập, tự có riêng biệt, ngược lại, đúng hơn là nó hiện hữu trong sự quan hệ tùy thuộc với những hiện tượng khác, chẳng hạn như tên gọi mà nó được định danh. Đây là cách sâu sắc nhất để hiểu được nguyên lý tương duyên. Vậy nên hiện tượng giới hiện hữu là nhờ vào tên gọi. Nếu không thì chẳng có hiện tượng nào hiện hữu cả. Tuy vậy, mọi vật đều có thể định danh bởi tâm thức mà không cần thiết phải hiện hữu mới có.

Điều khó khăn nhất là sự xác định, trong số những hiện tượng sinh khởi quy về do tâm, thì hiện tượng nào hiện hữu và hiện tượng nào không hiện hữu. Ngay cả khi chúng ta từ chối tình trạng hiện hữu độc lập và tự riêng nó của các hiện tượng, chúng ta phải đừng để rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa cường điệu về tính tương quan khi xem mọi thứ được tâm biết đến đều như có thực. Vấn đề bây giờ là xác định tiêu chuẩn nào sẽ giúp ta nhận ra hiện tượng nào trong số các hiện tượng được định danh bởi tâm mà thực sự được hiện hữu. Kinh, luận của Trung quán Ứng thành tông mô tả có ba tiêu chuẩn: trước hết, một hiện tượng được nhận biết bởi tâm được gọi là hiện hữu nếu nó được nhận biết một cách trực tiếp, không qua suy luận lòng vòng. Thứ hai, được gọi là hiện hữu nếu nhận thức trực tiếp nầy không mâu thuẫn với cái biết bằng tri giác đã được quan sát trên bình diện quy ước. Thứ ba, được gọi là hiện hữu nếu nó không phủ nhận sự tồn tại bằng sự phân tích của tâm thức khảo sát đến trạng thái cực điểm sự tồn tại của các hiện tượng. Theo ba tiêu chuẩn nầy, chúng ta có thể xác định một hiện tượng có tồn tại trên bình diện quy ước hay không. Những tiêu chuẩn này chỉ liên quan đến tâm nhận thức khách thể trong câu hỏi, và điều nầy nhắc nhở chúng ta lại một lần nữa rằng, không có hiện tượng nào có thể hiện hữu độc lập, ngoài tâm nhận thức về hiện tượng ấy.

Điều nầy khiến chúng ta ấn định giới hạn ý niệm về tri giác. Vì tất cả các trường phái, ngoại trừ trường phái Trung quán Ứng thành, thì cho rằng tri giác nhận thức đối tượng của nó mà không có một chút sai lầm hoặc thiếu chính xác nào cả. Những trường phái nầy không dung chứa các ý niệm thiếu chính xác và bất toàn của tri giác, trong khi Trung quán Ứng thành tông xác định rằng, dù tri giác không sai lầm trong sự công nhận về sự nhận thức đối tượng, tuy nhiên một ý niệm bất toàn về vật thể có thể hiện hữu. Chúng ta hãy lấy thí dụ trường hợp tri giác tản mạn về sự bất thường của âm thanh, kinh nghiệm nầy chỉ xảy ra trong mối liên quan với sự nhận biết về đối tượng – tức sự bất thường của hiện tượng âm thanh – tuy nhiên, lại không chính xác với đệ tử của trường phái Ứng thành, vì họ chủ trương các đối tượng đã được phú cho, hơn thế nữa, một hiện hữu tuyệt đối, không tùy thuộc tất cả các trường phái khác chấp nhận thực tại quy ước tồn tại trên cơ sở tự tính[75]. Thế nên đối với họ, sự nhận biết mà hiện tượng tồn tại theo cách này là không đúng, chỉ vì tri giác lại xuất phát từ mọi khía cạnh sai lầm và không chính xác.

Theo trường phái Ứng thành Trung quán, nhận thức hoàn chỉnh chính xác độc nhất là siêu việt mọi hình thức và sai lầm, đó là kinh nghiệm trực tiếp và niềm tin vào tính không – đó là, nhận thức tính biểu tượng từ bản thể tuyệt đối của hiện tượng giới.

Đó là sự trình bày vắn tắt về nguyên lý tương duyên.

 


   CUỘC PHỎNG VẤN ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA THỨ 14  TENZIN GYATSO

 

L.N.Đ: Cuộc phỏng vấn nầy được thực hiện bởi Dawn Engle và Ivan Suvanjieff tại Dharamsala, trụ xứ của đức Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso tại Ấn Độ vào ngày 22 tháng 5 năm 1995.

 

Hỏi: Có bao giờ Ngài nôn nóng không? Có khi nào Ngài nản lòng muốn từ bỏ mục đích lý tưởng của mình không?

Đạt-lại Lạt-ma: Có lẽ ở mức độ xúc cảm, điều ấy đôi khi có thể xảy ra. Nhưng, tôi tin rằng, là một con người, cảm xúc của chúng ta phải song hành với trí khôn của con người.

Nếu các bạn không có cảm xúc, thì con người sẽ trở nên khô khan, lạnh lùng. Thế nên cảm xúc phải là một bộ phận trong cuộc sống con người.

Cảm xúc là một loại cảm giác tự nhiên và mù quáng thế nên nó có thể vừa hữu ích vừa nguy hại. Thế nên ở đây, trí tuệ và khôn ngoan của con người có trách nhiệm ngăn ngừa những cảm xúc tiêu cực không có nguyên do cơ bản. Thực vậy, một vài cảm xúc như lòng từ bi thường phát sinh từ một nguyên do căn bản, và nó có thể song hành rất tốt với trí tuệ và sự khôn ngoan của con người.

Đây là pháp thực hành và niềm tin căn bản của tôi. Khi cảm giác chán nản, thất vọng phát sinh, thì trí tuệ sẽ đến để giúp chuyển hóa. Đôi khi vì không rõ nguyên do, các bạn liền có cảm giác tuyệt vọng đến ngay. Nhưng vì chúng ta là người, chúng ta có phương pháp và phương tiện để đối phó với chúng. Đó là quà tặng mà con người được ban cho. Vì loài vật thì không có cảm xúc, nên khi gặp hoàn cảnh tuyệt vọng, thì loài vật không có cách nào để thoát khỏi.

Đối với tôi, khi cảm xúc sắp sửa đến, trí tuệ sẽ giúp tôi hóa giải, thế nên đó không phải là vấn đề lớn.

Hỏi: Một thanh niên ở Chicago hỏi, phải làm gì với tình trạng bạo động hiện nay. Anh ta nói rằng hằng ngày anh ta bị vây hãm bởi trộm cướp và súng đạn, trên đường phố cũng như trong trường học. Anh ta muốn đi theo đường lối bất bạo động, nhưng anh ta không biết nên thực hành điều nầy ra sao trong khi vẫn sinh hoạt bình thường.

Đạt-lại Lạt-ma: Với tình trạng như thế, câu hỏi phát sinh từ trường hợp đặc thù nầy, nên rất khó trả lời. Từ những hoàn cảnh nầy, với một trường hợp ngoại lệ như thế, bạn có thể cần có một hành động tương tự để phản đối sự bạo động nầy. Thật là đáng tiếc! Tôi không muốn nói hành động tương tự là đúng. Tôi không thể nói điều ấy. Nhưng câu trả lời thực tế là, chúng ta phải có một nỗ lực để chuyển đổi mọi tình huống. Điều nầy luôn luôn là một vấn đề thực tế.

Suốt vài thập kỷ qua, tôi nghĩ là chúng ta đã thờ ơ với nhiều điều. Thế nên bây giờ, ngày hôm nay, một bối cảnh mới đã phát triển trong xã hội. Đường lối của nhân loại là tạo một nỗ lực để chuyển hóa toàn bộ không khí thù hận và bạo động. Nếu chúng ta có một hành động tương tự hay hành động phản kháng với hoàn cảnh hiện thời, điều ấy có thể làm đẩy mạnh tình trạng hiện thời hoặc có thể không, nhưng đó chỉ là giải pháp nhất thời, đó không phải là vấn đề chuyển hóa toàn triệt, đó không phải là câu trả lời thực sự.

Khi trình trạng tuyệt vọng xảy đến, tôi chú tâm thật nhiều vào cách ngăn ngừa những việc như thế xảy ra từ trong tương lai. Tình trạng hiện thời thật khủng khiếp, rất khủng khiếp, nhưng chúng ta không làm được gì cả, chỉ biết chấp nhận. Như tình hình Bosnia hiện nay – đôi khi có người hỏi tôi chúng ta nên làm gì và tôi đáp, thực sự là chẳng có gì để làm cả. Đôi khi con người hầu như trở nên nóng nảy với những cảm xúc tiêu cực. Trong những hoàn cảnh ấy, chỉ vì để có thể đối phó với tình hình. Các bạn không thể dùng trí khôn của loài người để phản ứng những cảm xúc tiêu cực trong những hoàn cảnh cực đoan như thế. Nó quá trễ, quá trễ!

Nhưng chúng ta không nên cảm thấy thất vọng, điều ấy sẽ sai lầm. Chúng ta phải hành động để ngăn ngừa những việc như vậy trong suốt thời gian dài ở tương lai, đó là phương thức tốt nhất của con người mà ta có thể hành động. Đó là vấn đề của chúng ta, dù nó không xảy ra trong suốt cuộc đời mình. Nhưng chúng ta phải làm việc nầy cho thế hệ tương lai.

Thế nên điều đó luôn luôn giúp cho tôi hy vọng. Vâng, tình trạng hiện nay thì vô vọng và không xoay xở gì được. Nhưng không có nghĩa là vô vọng trong tương lai. Vì có sự quyết định làm điều gì đó cho tương lai, nên luôn luôn có niềm hy vọng dài hạn. Với vấn đề đặc biệt nầy, trong một hoàn cảnh đặc thù, tôi không biết trả lời sao. Nếu người ấy là tôi, với tất cả áp lực đặt vào tôi, như khẩu súng chĩa vào tôi, tôi không biết phải làm gì nữa. Có lẽ tôi sẽ làm như thế nầy (cười và giấu mặt vào sau hai bàn tay), hoặc có khi tôi sẽ làm như thế nầy (ra dấu cú đấm tưởng tượng bằng nắm tay), cũng sẽ là bạo động luôn (cười dài và lớn). Thực vậy, tôi không biết tôi phải làm gì nữa!

Hỏi: Nếu Ngài còn trẻ, chắc không có ai lắng nghe những điều Ngài nói. Làm sao để tôi có thể khiến mọi người chấp nhận tôi và chấp nhận mọi ý tưởng của tôi nghiêm túc hơn.

Đạt-lại Lạt-ma: (suy nghĩ, rồi cười) Tôi không biết nữa. Tôi cảm thấy đôi khi, trong kinh nghiệm của tôi, tôi có vài ý tưởng và tôi không bao giờ nghĩ đó là điên rồ, nhưng nó thực sự là một ý tưởng điên rồ. Nhưng tôi cho rằng đó là một ý tưởng vĩ đại và tôi cố gắng thuyết phục người khác tin ý tưởng ấy vĩ đại biết bao. Rồi sau đó, các bạn mới hiểu ra cái điên rồ của ý tưởng ấy là gì. Lúc đó, sự phản ứng về ý tưởng của bạn sẽ không phải là tích cực, nhưng các bạn đã có sự tin tưởng rằng ý kiến của mình là rất vĩ đại. Cũng thế, những người lớn tuổi đôi khi họ nghe một ý kiến từ lớp trẻ, họ nghĩ rằng: »Ồ! Chẳng có kinh nghiệm«. Và họ thực sự chẳng thèm nghe. Trường hợp ấy hoàn toàn có xảy ra. Thế nên đôi khi, bản chất của con người là thường dựa vào người nói hơn là căn cứ vào bản chất của ý kiến được nói. Nếu một ý kiến được đưa ra từ người nào đó rất quý phái hoặc quan trọng, thì không cần phải suy nghĩ gì nhiều về ý kiến ấy, người ta vẫn có khuynh hướng chấp nhận ý kiến ấy. Tôi nghĩ rằng đây là một trong những giáo lý quan trọng của đạo Phật. Chúng ta phải nương tựa vào bản chất của ý tưởng, hơn là dựa vào quyền hạn của người đưa ra ý kiến.

Thế nên nếu ý kiến phát xuất từ giới trẻ mà có giá trị thực sự, thì chúng ta nên chấp nhận. Còn nếu đó là ý kiến điên rồ do hoàng đế hoặc thủ tướng nước Thụy Điển đưa ra thì cũng không chấp nhận. Chúng ta cần chú tâm vào nội dung, không phải vào người đưa ra nội dung ấy. Nếu chúng ta tuân thủ thái độ nầy, thì ngay với người rất trẻ, chúng ta vẫn có thể lắng nghe và chấp nhận ý kiến của họ.

Tôi cảm thấy đôi khi từ những người trẻ, tâm thức họ chưa được đào luyện, nên họ đặt mọi việc vào trong một lề lối khác hẳn. Họ rất tự nhiên và ngẫu hứng. Những người lớn có sự đào luyện tâm linh nhiều hơn và có khuynh hướng ảnh hưởng bởi xã hội và bản tính nghiêng về trí tuệ. Lớp trẻ thì ngây thơ hơn. Phẩm chất cơ bản của bản tính con người, bản chất toàn thiện bẩm sinh có sẵn trong mỗi người chúng ta, thì rất trong sáng. Những người lớn có khuynh hướng ít ngẫu hứng, và nhiều thuần thục (cười). Nhưng, tôi cũng không biết nữa.

Hỏi: Ở trường, chúng tôi đã được học về sự quan trọng của mưa rừng và sự bảo dưỡng môi trường. Ngài cảm thấy thế nào khi thấy sự ô nhiễm rác thải, bụi không khí và rừng bị khai thác?

Đạt-lại Lạt-ma: Hiện nay, sự ô nhiễm là vấn đề nổi cộm. Cũng vậy, người ta dùng tài nguyên thiên nhiên đến mức cạn kiệt, điều đó cũng góp phần tạo nên vấn đề. Trong trường hợp cá nhân tôi, khi còn ở Tây Tạng, là một vùng đất mênh mông và ít dân cư, khí hậu lạnh và khô, nên ngay dù chúng tôi không quan tâm nhiều đến môi trường, nhưng thiên nhiên tự bảo quản lấy nhau nên chúng tôi được ở trong một môi trường bình lặng. Bây giờ, trở nên rất rõ ràng rằng môi trường rất quan trọng và nhiều việc cần phải làm hằng ngày bởi mọi người để bảo vệ môi trường. Khi các bạn ra khỏi phòng làm việc, hãy tắt điện, chế biến lại rác thải, điều này rất dễ, nó trở thành một phần cuộc sống hằng ngày của bạn và mỗi cá nhân có thể trợ giúp rất nhiều. Tương tự, nếu 1, 10, 100, 1000 người không chú tâm, ảnh hưởng sẽ rất tồi tệ.

Mỗi cá nhân phải thực hiện một số kỷ luật nầy trong đời sống hằng ngày, để chúng ta cùng nhau tạo nên một tác động mạnh vào xã hội. Giáo dục cũng rất lợi ích, nhưng điều quan trọng nhất là những thực tập đơn giản nầy trở thành một phần của sinh hoạt hằng ngày.

Hỏi: Các kênh truyền hình tin tức, giải trí và phim ảnh đã trình bày và đề cao bạo động. Ngài có nghĩ rằng những điều nầy làm cho xã hội chúng ta nhiều bạo động hơn?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi nghĩ như thế. Tôi cho là như vậy, đặc biệt đối với những người không chịu quán chiếu sâu vào nội tâm, đặc biệt những thành phần nầy, sự ảnh hưởng của bên trong tạo nên một tác động mạnh vào nội tâm của họ. Nếu có một ai thường thiền định và quán chiếu vào nội tâm theo một nền tảng thường xuyên, thì tôi nghĩ rằng ảnh hưởng của ngoại giới sẽ ít đi.

Trong xã hội ngày nay, đặc biệt đối với giới trẻ, phương tiện truyền thông có một trách nhiệm thật lớn. Tôi luôn luôn tin rằng trên hành tinh nầy, chúng ta là một gia đình nhân loại. Và bây giờ, vì nhiều sự kiện mới ngày nay, ý niệm về »họ« và »chúng ta« nên được giải trừ. Chúng ta phải nghĩ về toàn thể loài người là »chúng ta«. Sẽ không còn »điều tôi quan tâm« hoặc »điều các bạn quan tâm« nữa, tất cả những điều chúng ta quan tâm đều liên hệ đến toàn thể thế giới, đến toàn thể mọi người – bao gồm cả phương tiện truyền thông. Chúng ta bây giờ là một gia đình vũ trụ, thế nên khi có một vấn đề hay một mối đe dọa đến một người trong chúng ta, tất cả chúng ta đều đau khổ. Không có cách nào thoát ra khỏi được. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm chăm sóc thế giới.

Bây giờ thế giới đã trở nên một nơi quá chật hẹp, tùy thuộc rất nhiều vào mỗi người chúng ta. Để tiến về phía trước một cách tích cực, cần yếu tố chính là tâm thức nhân loại. Thế nên ở đây, ý thức cam kết vì mục đích tương lai thế giới tốt đẹp hơn, dạng ý thức trách nhiệm đó, là hy vọng thực sự của chúng ta. Tất cả các ngành chuyên môn đều đóng góp phần của mình: giới truyền thông, khoa học, các nhà lãnh đạo tôn giáo, kinh tế gia, và dĩ nhiên cả chính trị gia. Tất cả đều có những hoạt động khác nhau, nhưng tất cả đều vì lòng nhân từ, vì hiện nay khi nói về lòng nhân từ, ta không nên tạo ra sự kỳ thị giữa các phía chống trái nhau. Nên dĩ nhiên, phương tiện truyền thông có trách nhiệm rất lớn lao.

Cơ bản, tôi tin rằng bản chất con người là trong sáng, bản chất cơ bản của con người là lòng từ bi. Nhưng thế mà, não bộ của con người, như tôi đã đề cập từ trước, cũng có phần ảnh hưởng đến sự thi tác, và vì thế, cũng góp phần tạo nên cảm xúc của con người.

Tôi luôn luôn tin tưởng rằng thân thể con người mà ta đang thọ báo, trong phần cấu trúc thân thể ấy được bao bọc bởi môi trường nhuốm đầy phiền não, thân thể ấy sẽ mạnh khỏe, tỉnh lại hơn và các chức năng vật lý của thân sẽ hoạt động một cách chính xác hơn. Nếu thân thể nầy ở trong bầu khí căng thẳng và bị stress, thì sự phản ứng từ thân sẽ rất tiêu cực. Thế nên điều rất tự nhiên đối với thân thể là nó làm việc tốt nhất khi nó được vây bọc chung quanh bởi phiền não của con người. Nó cần có sự phiền não ấy. Nếu trạng thái tâm lý của con người rất mẫn cảm, giàu lòng từ bi, và ít sợ hãi, ít giận dữ, ít căng thẳng, thì kết quả áp lực máu trong thân sẽ hạ xuống... Sợ hãi, sân hận, là những điều rất xấu đối với thân. Vì những lý do nầy, tôi tin rằng bản chất cơ bản của con người là rất trong sáng. Nhưng các bạn sẽ hỏi, thế thì tại sao lại có một số người quá kiêu mạn và hung hãn? Cơ bản là, tôi tin rằng đó là do suy nghĩ của từng người. Trí tuệ cho chúng ta sự tùy chọn. Tính thiện sẽ được thắng phục và trí tuệ con người cung cấp nhiên liệu cho những cảm xúc tiêu cực. Thế nên ngày nay, tôi tin rằng khi tính chất phá hoại của xã hội hiện thời đe dọa sự tồn tại của toàn nhân loại thế giới, thì trí tuệ con người có nhiều việc cần phải hóa giải.

Phương cách để vượt qua khổ đau của toàn nhân loại cũng là thông qua trí tuệ của con người. Ngày nay, nói chung, tôi nghĩ rằng người ta mắc phải ấn tượng là bản tính con người trở nên tiêu cực hơn. Đó là khi những câu chuyện tiêu cực trở thành thông tin bởi vì nó muốn khủng bố chúng ta, và nó đánh vào tâm thức chúng ta vì nó là một thứ gì đó không tự nhiên. Khi ta nghe một người nào đó quan tâm đến một ai đó, ta nghĩ rằng, đó là điều tự nhiên. Thế nên tôi nghĩ rằng sự biểu lộ ấy chính là lòng từ bi, chúng ta thể hiện bởi lòng khoan dung. Sự giết hại và thảm sát, đây là điều không tự nhiên đối với con người, thế mà những thứ ấy lại trở thành tin tức, chúng ta luôn luôn bị bao bọc bởi những tin tức xấu. Thế nên rốt cục chúng ta cảm thấy con người là tiêu cực và tạo ra sự thù hận về phía chính mình.

Phương tiện truyền thông có trách nhiệm thực sự tạo nên một toàn cảnh chân xác về bản chất thực tại của nhân loại. Và tôi cảm thấy điều nầy rất là quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tâm thức con người và tác động đến quyết định tạo lập một tương lai tốt đẹp hơn cho chúng ta. Nếu chúng ta không tin chính mình và không tin vào bản tính toàn thiện của mình, thì làm sao ta tin được rằng mình có thể tạo lập một tương lai tốt đẹp hơn? Sự tự tin rất là quan trọng. Thế nên nếu phương tiện truyền thông luôn luôn truyền đi những tin tức tiêu cực, làm cho tình hình có vẻ tuyệt vọng, nó sẽ làm xói mòn phẩm chất căn bản của con người.

Hỏi: Nếu một ngày nào đó Ngài có khả năng tàng hình, hoàn toàn tàng hình chỉ trong một ngày thì Ngài sẽ làm gì?

Đạt-lại Lạt-ma: Thực ra, theo quan điểm đạo Phật, cũng có những lúc như thế. Đến lúc ấy, sẽ có những trách nhiệm mới, những việc mới phải làm. Nhưng bản tâm của các bạn vẫn như nhau, và mục tiêu vẫn là giúp đỡ mọi người khác. Dù trong thân tàng hình hay với hiện thân thì công việc cơ bản của các bạn vẫn như nhau. Các bạn vẫn sẽ có những cảm nhận như nhau, vẫn muốn hạnh phúc như nhau và đều không muốn bị đau khổ. Dù thân bạn ẩn tàng hay hiện hình, không phải là vấn đề, vẫn như nhau thôi. Còn tôi cho rằng nếu tôi tàng hình được, tôi sẽ dễ dàng hơn để dò thám người khác (cười). Đó sẽ là một cơ hội mới, một dịp rất tốt (cười dài và lớn).

Hỏi: Phải làm gì khi bị cảm giác thất vọng toàn ngập? Tại sao chúng ta phải tiếp tục sống trong khi tất cả mọi thứ dường như vô ích, và có rất ít hy vọng?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi nghĩ loại nhận thức như vậy hoàn toàn sai lầm. Dĩ nhiên, luôn luôn có nhiều rắc rối trong đời sống, nhưng cũng vậy, luôn luôn có những niềm hy vọng. Nếu các bạn có được ý niệm nầy thì sẽ có sức mạnh. Thế nên luôn luôn có một cơ hội tốt lành và niềm hy vọng luôn luôn nằm trong đó.

Hỏi: Ngài là một người vĩ đại, còn tôi là một người rất nhỏ bé. Bằng cách nào để tôi có thể làm được mọi điều trên thế gian?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi không cho rằng mình là điều gì đó đặc biệt. Tôi luôn luôn cho rằng tất cả mọi người đều đặc biệt, dù họ có học hay không được học, họ đều có tình người và tâm linh của con người, và đó là điều quan trọng nhất.

Thế nên bây giờ vấn đề là các bạn có dùng tiềm năng của con người thể hiện qua tính tự tin hay không? Đó là vấn đề. Mọi người đều có cùng một năng lực tiềm ẩn như nhau, không đánh mất niềm tự tin, và với sự quyết đoán mạnh mẽ. Các bạn cần phải cố gắng. Sự tu học rất quan trọng để nhận ra bản chất hoàn thiện của con người, tôi tin rằng sự huân tập rất cần thiết.

Hỏi: Chúng ta còn bao nhiêu thời gian để phải từ bỏ hành tinh nầy, sau khi môi trường bị phá hủy và mọi thảm trạng mà ta đã gieo vào trái đất? Có chăng niềm hy vọng để hồi sinh lại hành tinh nầy?

Đạt-lại Lạt-ma: Mặc dù có quá nhiều vấn đề, quá nhiều đau khổ, nhiều tình huống bi kịch, tôi vẫn tin loài người có năng lực hồi sinh hành tinh nầy, và không chỉ hồi sinh, mà tôi còn nghĩ rằng, do kinh nghiệm của chúng ta từ những thế kỷ vừa qua, chúng ta đã học hỏi được rất nhiều. Có lẽ như là kết quả từ kinh nghiệm của chúng ta từ những giai đoạn phức tạp, khó khăn này, tôi nghĩ rằng nhân loại nói chung đang trở nên chín chắn hơn. Thế nên nếu chúng ta thực sự tập trung nhiều nỗ lực hơn, với cái nhìn trong sáng hơn về tương lai, tôi nghĩ thế kỷ đến chắc chắn là một thế kỷ hạnh phúc hơn.

Tương lai đang ở trên vai của chính mình. Nếu chúng ta gặp thất bại, ta lại tạo một nỗ lực khác. Gặp thất bại, càng cố gắng. Càng thất bại, càng cố gắng hơn. Luôn luôn có khả năng để có một tương lai tốt đẹp hơn. Nếu chúng ta từ bỏ hy vọng và từ bỏ nỗ lực thì chúng ta sẽ rước lấy sự tàn phá và hủy hoại.

Hỏi: Có bao giờ Ngài lúng túng bởi những sự cung kính người ta dành cho ngài. Tôi muốn được trở thành một nhà lãnh đạo, nhưng tôi không biết cách rèn luyện mình như thế nào để đạt được và vẫn chưa biết cách duy trì tính khiêm cung?

Đạt-lại Lạt-ma: Thường thường, thái độ của tôi là thấy rằng mình chỉ là một con người, tiếp xúc với một con người khác. Trên bình diện đó, không có gì khác nhau nhiều lắm. Dĩ nhiên, trên bình diện khác, có nhiều vị trí, tướng trạng và danh xưng khác nhau... Nhưng đây là những điều thứ yếu. Nếu các bạn xem những thứ nầy là quan trọng thì thực sự, nó sẽ trở thành một chướng ngại khi tiếp xúc với những người khác. Nếu các bạn ở trên bình diện cơ bản của con người, thì sẽ không có một rào chắn nào cả.

Loại thái độ ấy rất có ích cho tôi. Theo cách đó, khi tôi tiếp xúc với một nguyên thủ quốc gia hay người ăn xin, đối với tôi, có rất ít khác biệt. Miễn là đối với người đối diện, mình có một nụ cười chân thật, lòng thông cảm chân thành thì việc tiếp xúc sẽ thoải mái. Đó là giá trị chân thật và cảm xúc chân thật của con người, ước nguyện chia sẻ nỗi khổ hay hạnh phúc của người khác như anh chị em của mình.

Hỏi: Có niềm hy vọng gì cho Tây Tạng không? Chúng tôi có thể làm gì để giúp cho người dân Tây Tạng và chính nghĩa của họ? Ngài có thực sự cho rằng chủ trương bất bạo động có thể áp dụng để cứu vãn cho tình hình Tây Tạng?

Đạt-lại Lat-ma: Mặc dù bản chất của mọi vấn đề đang diễn biến ở Tây Tạng hàng ngày là rất nghiêm trọng, gay gắt, nhưng về cơ bản, tôi vẫn rất hy vọng, vì bối cảnh toàn cầu của thế giới, những chính sách chuyên chế độc đoán sẽ không còn nữa. Và ở Trung Hoa, các phong trào dân chủ không những được hồi phục mà hiện nay rất sôi động. Cũng thế, kinh tế phát triển, đã mang đến tự do trong chính trị.

Trong lúc đó, tinh thần của nhân dân Tây Tạng rất cao, rất mạnh, đặc biệt trong thế hệ trẻ. Cũng vậy, sự hiểu biết về tình hình Tây Tạng đã gia tăng khắp thế giới qua từng năm và kết quả là, cảm giác cảm thông, gắn bó cũng gia tăng theo. Thế nên nhờ những yếu tố này, cho một mục tiêu lâu dài, tôi rất lạc quan.

Trong khi chờ đợi, tôi thành tâm kêu gọi các huynh đệ trên thế giới hãy lắng nghe chúng tôi. Trong quá khứ, Tây Tạng quá xa xôi và bị cô lập. Ngày nay, cục diện thế giới đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt là tình hình Tây Tạng, nhờ vào môn học địa lý.

Nếu Tây Tạng trở thành một quốc gia hòa bình, sẽ có sự đóng góp rất lớn cho tình trạng hòa bình ở châu Á, vì Trung Hoa và Nhật Bản là hai quốc gia có dân số đông nhất trên thế giới và chắc hẳn sẽ đóng góp rất nhiều cho hòa bình thế giới. Thế mà văn hóa Tây Tạng, văn hóa Phật giáo và lối sống (không riêng Phật giáo, mà còn có Hồi giáo Tây Tạng, tôi đang nhấn mạnh về văn hóa, về phong cách sống), hôm nay cũng đang đối diện với sự hủy diệt. Nền văn hóa nầy cũng là một tiềm năng lớn để tạo nên một sự can thiệp mạnh mẽ cho sự bình an của tâm thức không chỉ cho sáu triệu dân Tây Tạng, mà còn cho tất cả loài người trên thế giới, và còn giúp đỡ rất nhiều cho hàng triệu thanh niên Trung Hoa nữa.

Tán trợ và khuyến khích mọi người gìn giữ, bảo vệ nước Tây Tạng và văn hóa Tây Tạng sẽ là một sự ủng hộ lớn lao, được hoan nghênh nhất. Tôi chân thành thỉnh cầu sự quan tâm của các huynh đệ khắp nơi trên hành tinh xinh đẹp này.

Hỏi: Nếu Ngài có một điều để nói với giới trẻ khắp nơi trên thế giới, điều ấy là gì?

Đạt-lại Lạt-ma: Các huynh đệ thân mến, là con người sống trên hành tinh nhỏ nầy, thời gian luôn luôn thay đổi, luôn luôn chuyển biến. Trong một cách nào đó, phương thức vạn vật chuyển biến là rất tốt, vì nếu vạn vật không thay đổi, thì mọi hiện tượng tiêu cực vẫn còn đó. Vì mọi chuyện đều luôn luôn thay đổi, nên luôn luôn có niềm hy vọng.

Bây giờ, điều tôi muốn chia sẻ với các bạn là luôn luôn có khả năng cho vạn vật chuyển biến và thay đổi tốt hơn. Sự thay đổi chứa đầy giá trị con người. Tôi nghĩ rằng đó là mục đích của chúng ta. Chúng ta có dịp may – đặc biệt là các bạn, những người trẻ tuổi – các bạn là nhân vật chính mang trên vai trách nhiệm tạo lập nên tương lai tốt đẹp trong lâu dài. Các bạn là hạt giống để phát triển thành một thế giới thịnh vượng, giàu có, thân thiện, hòa hợp và an lạc. Thế nên mọi việc đều tùy thuộc rất nhiều vào các bạn. Sự giáo dục rất quan trọng, nhưng chỉ giáo dục một mình thôi chưa đủ. Sự giáo dục cho bộ não và sự phát triển tâm linh hoàn thiện – hai điều nầy phải đi cùng với nhau. Con tim thánh thiện cho các bạn tính can đảm, sự tự tin và tính quả quyết. Đây là những động cơ thiết yếu cho một tương lai tốt đẹp. Và bộ não, giống như một thiết bị, có thể hóa giải mọi vấn đề. Nên với một thiết bị hoàn hảo được điều khiển bởi một con tim thánh thiện, thì sẽ có hy vọng chân thực. Sẽ có một tương lai hoàn thiện thực sự. Nên các bạn phải hiểu rằng, phần nhiều đều tùy thuộc vào bàn tay và sự gánh vác trên vai các bạn. Chúng ta hãy cố gắng tạo lập được một thế giới hạnh phúc an lạc. Vâng – chắc chắn đó là một hy vọng tốt đẹp, đó là một tiềm năng diệu kỳ. Rất quan trọng khi có niềm tự tin vững mạnh và dứt khoát hướng đến thế giới an vui đó.

Với niềm lạc quan, dù sự việc khó khăn mấy vẫn có thể vượt qua được. Nếu các bạn đánh mất niềm hy vọng và giữ mãi thái độ bi quan, thì ngay cả những việc dễ thành tựu, các bạn cũng sẽ không bao giờ đạt được. Vậy nên, phần nhiều là tùy thuộc vào phong thái tâm linh của các bạn. Đó là những gì tôi thực sự muốn chia sẻ với các bạn.


CUỘC THẢO LUẬN VỚI ROBERT THURMAN

 

 

L.G.T: Robert A.F.Thurman là một Tăng sĩ Phật giáo, thọ giới tỷ-khưu  năm 1964. Hiện nay là Giáo sư phân khoa Nghiên cứu Phật giáo Đông phương và Phật giáo Tây Tạng thuộc Đại học Columbia, Hoa Kỳ. Ông là một học giả có uy tín và chuyên dịch thuật kinh luận từ tiếng Tây Tạng và Sanskrit,  là tác giả của các tập khảo luận:

- Essential Tibetan Buddhism – 1996.

- Innet Revolution: The Politics of Enlightenment – 1998.

Ông cũng là người đồng sáng lập và là Chủ tịch của Văn phòng Tây Tạng tại Nữu Ước, ông hoạt động bên cạnh đức Đạt-lại Lạt-ma để hoằng truyền Phật giáo khắp nước Mỹ và hướng dẫn cho người Tây phương biết rõ hơn về Phật giáo Tây Tạng.

Cuộc thảo luận nầy diễn ra tại trú xứ của Đức Đạt-lại Lạt-ma ở Dharamsala, Ấn Độ, vào tháng 8. 1997.

Robert Thurman:

Có điều gì đó về xã hội Hoa Kỳ làm cho rất nhiều người tìm đến và tu tập theo đạo Phật?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi không biết nữa. Tại sao ông lại quan tâm đến thế? (cười) Không! Thật đấy! Tôi thấy người Mỹ rất quan tâm đến đạo Phật vì họ có tâm hồn cởi mở. Họ thụ bẩm một nền giáo dục dạy họ phải tự mình tìm hiểu tại sao sự vật biểu hiện theo phương cách của nó. Những người đó có tấm lòng cởi mở có khuynh hướng quan tâm đến đạo Phật vì đức Phật đã từng khuyến khích mọi người hãy tự khảo nghiệm lấy sự kiện, chứ đức Phật không ép buộc họ phải tin.

Cũng vậy, nền giáo dục ở nước bạn có khuynh hướng phát triển bộ não trong khi thờ ơ với nội tâm, thế nên bạn có ao ước về một giáo lý nhằm phát huy và làm lớn mạnh thiện tâm Cơ-đốc giáo  cũng có một giáo lý hay, đẹp về con người, nhưng bạn không biết hoàn chỉnh về giáo lý ấy. Thế nên bạn chuyển sự quan tâm vào Phật giáo (cười). Đôi khi giáo lý đạo Phật dường như ít tính chất tôn giáo và có vẻ kỹ thuật hơn, như ngành tâm lý học, nên giáo lý nầy giới bình dân rất dễ áp dụng.

Thurman: Có người cho rằng Ngài đã theo một tôn giáo phát xuất từ nền văn hóa của chính Ngài. Việc chấp nhận một tôn giáo hay một pháp tu tập tâm linh của nước ngoài vào trong sinh hoạt văn hóa của riêng mình, có phải đó thực sự là một ý kiến đúng đắn chăng?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi luôn luôn nói rằng con người không nên vội vàng thay đổi tôn giáo. Có một giá trị đích thực khi thâm nhập vào nguồn cội tâm linh mà các bạn cần phải có từ tôn giáo gốc của mình. Ngay cả giới bình dân cũng có cội nguồn tâm linh phong phú của riêng họ, điều ấy đến với tôi hầu như là một tôn giáo. Tất cả các tôn giáo đều cố gắng làm lợi lạc cho con người, với một thông điệp cơ bản giống nhau về nhu cầu, về lòng từ bi, về chân lý, sự trung thực, và về lòng bao dung. Thế nên chỉ thay đổi dạng thức một tôn giáo mới sáp nhập thường sẽ chẳng giúp ích được gì nhiều cho mình. Mặt khác, trong một xã hội dân chủ, đa nguyên, có quyền tự do theo một tôn giáo mà bạn thích. Điều này rất hay. Điều này khiến những người hiếu kỳ như ông chạy quanh tìm kiếm một cách thoải mái (cười).

Thurman: Ngài nói rằng trong tương lai, khi Tây Tạng được tự do, Ngài sẽ không giữ chức lãnh đạo chính phủ Tây Tạng nữa. Có phải vì Ngài muốn giới thiệu nguyên tắc dân chủ khi tách rời giáo hội và nhà nước ở quốc gia của Ngài?

Đạt-lại Lạt-ma: Tôi rất tin thể chế dân chủ rất cần thiết và rất quan trọng, và nếu tôi còn giữ vai trò lãnh đạo chính phủ, sẽ là một trở ngại cho việc thực thi dân chủ. Cũng vậy, nếu khi tôi còn lãnh đạo, tôi phải tham gia một trong các đảng phái. Nếu một vị Đạt-lại Lạt-ma gia nhập đảng phái, thì điều ấy rất khó cho việc điều hành guồng máy.

Từ trước đến nay, sự chia xẻ của tôi với cuộc đấu tranh tự do của nhân dân Tây Tạng đã là một phần của phép thực hành tâm linh của tôi, vì vấn đề làm sống dậy giáo lý Phật pháp và sự tự do của Tây Tạng có liên quan với nhau rất nhiều. Trong cuộc đấu tranh đặc biệt nầy, không có vấn đề tham gia của các Tăng, Ni, gồm cả tôi trong đó. Nhưng khi tiến hành một đảng chính trị dân chủ, tôi không thích Tăng và Ni tham dự vào đó – để bảo đảm sự thực thi dân chủ chính đáng – một vị Đạt-lại Lạt-ma cũng không nên là một thành viên trong Đảng, mà nên duy trì chức năng trước đây.

Cuối cùng, riêng tôi thực sự chẳng muốn đảm nhận một nhiệm vụ gì trong đảng, cũng chẳng muốn đảm nhiệm một chức vụ nào trong nhà nước cả.

Thurman: Nhưng nếu Ngài tham gia như vua Thụy Điển hay nữ hoàng Anh – như một hiến pháp của Đạt-lại Lạt-ma thì sao? Là một nhà lãnh đạo tôn giáo, đảm nhiệm một vai trò hợp nhất, Ngài có quan tâm đến điều nầy không, nếu mọi người thỉnh cầu?

Đạt-lại Lạt-ma: (cười thân mật) Tôi không nghĩ như thế. Tôi không muốn trở thành tù nhân trong cung điện, sống theo một lối nghiêm ngặt quá chặt chẽ như thế! Dĩ nhiên, nếu thực sự có một hậu quả nghiêm trọng nếu tôi không chấp nhận vai trò đó, thì chắc tôi làm bất kỳ một điều gì đó cần thiết. Nhưng nói chung, tôi thực sự thích tự do hơn. Có lẽ, chỉ là có lẽ, tôi thích trở thành một đạo sư tâm linh, một Lama thích hoạt động!

Thurman: Ngài vừa phát biểu rằng Ngài có một »tấm lòng tốt hơn như hiện nay« là nhờ vào cuộc sống lưu đày. Cuộc đời lưu đày đã giúp Ngài điều gì?

Đạt-lại Lạt-ma: Khi chúng ta gặp bi kịch thực sự trong đời sống, chúng ta có thể phản ứng theo hai cách – hoặc là đánh mất hy vọng và rơi vào thói quen tự hủy hoại, hoặc là dùng sự thử thách ấy để tìm ra một nội lực tâm linh. Nhờ vào giáo lý của đức Phật, tôi thường chọn cách thứ nhì. Tôi đã tìm thấy giá trị lớn lao của đạo Phật vì tôi không thể cho rằng cuộc sống lưu đày ở đây là hợp lý. Chúng tôi đã có một nỗ lực rất lớn để duy trì mọi trình độ trong nền giáo dục Phật giáo, điều ấy thực sự đã giúp cho chúng tôi một dạng của sự phục hưng.

Thurman: Trong cuộc tranh đấu hiện thời của Srilanca chủ yếu là giữa Phật giáo và thành phần ly khai Ấn Độ giáo Hổ Tamil – một cuộc đấu tranh lôi kéo theo hàng ngàn người từ khi bắt đầu cách đây 14 năm – có rất nhiều phương pháp được tìm kiếm để bào chữa cho sự tham gia của Phật giáo, bao gồm cả giới tăng lữ trong cuộc bạo động nầy. Chủ yếu, lý lẽ về chủ trương hòa bình mà Ngài đang theo đuổi không hợp với thực trạng tình hình thế giới, và điều ấy đã khiến cho phía đối nghịch phá hủy tượng Phật, chùa chiền và giết hại Phật tử khi họ không cần kháng cự lại, đơn giản đó là điều không thể tha thứ được.

Sự mất chủ quyền quốc gia của ngài được xem như một ví dụ về sự vô ích của đường lối bất bạo động và lòng khoan dung. Đến khi nào mới có được sự phản ứng thiết thực?

Đạt-lại Lạt-ma: Điều nầy rất khó trả lời, riêng trong trường hợp của mình, chúng tôi không xem việc mất mát tự viện hay một công trình Phật giáo là sự chấm dứt toàn bộ phương cách sống của chúng tôi. Nếu một tu viện bị phá hủy, điều ấy đôi khi xảy ra, nhưng chúng tôi không cần phải phản ứng bằng sự bạo động tuyệt vọng cho dù dưới nhiều hoàn cảnh đặc biệt. Phương thức bạo động – bất kỳ phương thức nào – đều có thể bị phê phán, tuy nhiên một khi các bạn đã tiến hành một cuộc bạo động, thì cuộc bạo động đối kháng sẽ phản ứng lại. Cũng thế, nếu các bạn chấp nhận phương thức bạo động vì đối phương đã phá hủy tu viện của bạn, chẳng hạn, thì các bạn không những chỉ mất tu viện của mình thôi, mà còn mất luôn truyền thống tu tập đặc biệt của Phật giáo về sự chấp trước, và lòng từ bi.

Tuy nhiên, nếu tình trạng đến nổi chỉ còn một vị Lạt-ma thông tuệ hoặc một hành giả chân chính đang sống, người mà cái chết của họ sẽ khiến cho toàn dân Tây Tạng đánh mất hy vọng gìn giữ được đời sống Phật giáo, thì có thể chấp nhận rằng để bảo vệ người đó, có thể đánh đổi một hoặc mười đối thủ phải bị giải trừ – nếu không có một phương thức nào khác. Tôi chỉ sẽ bào chữa tính bạo động trong trường hợp cùng cực này mà thôi, mục đích là để cứu vớt sự tồn tại của chính huệ mạng Phật pháp.

Đối với người Tây Tạng, sức mạnh thực sự từ cuộc tranh đấu là sự chân thực – không ầm ĩ, không tiền bạc, không tinh khôn.  Chúng tôi đặt toàn bộ niềm tin của mình trên chân lý và chính nghĩa.

Từ khi chúng tôi trở thành quốc gia Phật giáo, chúng tôi đã sống hòa bình . Chúng tôi không xâm lấn lãnh thổ. Chúng tôi không thích ai xâm lăng đất nước chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ tuyên bố chiến tranh với ai. Chúng tôi chỉ có một vấn đề: để yên cho chúng tôi sống an bình, để cho chúng tôi hưởng được tự do bản nhiên. Tôi chỉ rời bỏ Tây Tạng vì e ngại nhân dân nước tôi sẽ phát động cuộc bạo động tuyệt vọng nếu Trung Hoa cầm tù tôi.

Thurman: Làm sao có thể hóa giải bạo động mà không bằng sự ghét bỏ, hoặc sân hận?

Đạt-lại Lạt-ma: Chất hóa giải sân hận trong tâm, cội nguồn của bạo động, là lòng khoan dung. Khoan dung là một đức tính quan trọng của Bồ tát (những bậc đại sĩ đã giác ngộ) – đức tính ấy khiến các bạn tránh được sự phản ứng giận dữ từ sự hãm hại các bạn bởi những người khác. Các bạn có thể gọi phương pháp thực tập nầy là »giải trừ đối kháng nội tâm«, trong đó, sự phát triển lòng khoan dung cao độ sẽ khiến cho bạn thoát khỏi sự thúc giục phải phản công lại người khác. Cùng một lý do đó, chúng ta cũng gọi lòng khoan dung là »áo giáp tốt nhất«, vì nó bảo hộ cho bạn khỏi bị chinh phục bởi sân hận của chính mình.

Có lẽ dường như thiếu thực tế khi nghĩ rằng chúng ta có thể tránh khỏi ngay cả sân hận, nhưng những người Phật tử đã có những phương pháp mang tính hệ thống để dần dần phát triển năng lực khoan dung đủ để tạo nên sự tự do như vậy. Nếu không có lòng khoan dung lẫn nhau giữa hai bên khởi dậy như một nền tảng chung thì những tình trạng khủng hoảng như ở Tây Tạng và Srilanca, Bosnia và Rwanda sẽ không bao giờ có được hiệu quả tiến bộ cả.

đến sự thỏa hiệp. Do vậy, tôi nói đến sự “tự trị« chân chính, chớ không phải là nói đến độc lập.

...

Vì sự quan tâm chính của tôi là nền văn hóa Phật giáo Tây Tạng, không chỉ là độc lập chính trị, tôi không thể tìm kiếm sự »tự trị« cho vùng Trung nguyên Tây Tạng và loại trừ 4 triệu dân Tây Tạng ở hai tỉnh phía Đông gồm Amdo và Kham (một phần thuộc nước Tây Tạng độc lập, tỉnh Amdo bây giờ thuộc Trung Hoa, được gọi là Qinghai, tỉnh Kham được chia thành các tỉnh của Trung Hoa, gọi là GansuSichuan và Yunnan.

Tôi đã trình bày rõ ràng quan điểm của mình trong thời gian khá dài. Chúng tôi bây giờ đang tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý trong thể chế của chúng tôi từ các cộng đồng người Tây Tạng lưu vong và trong nước, để xem xét lại những tư tưởng chủ yếu mà chúng tôi đang theo đuổi là gì. Tôi là người có niềm tin chắc chắn vào tầm quan trọng của thể chế dân chủ, đó không chỉ là mục tiêu tối hậu, mà cũng là một phần thiết yếu của toàn bộ tiến trình.

Thurman: Ngài nói về cách đức Phật luôn luôn nhấn mạnh vào sự truy tìm hợp lý về chân lý. »Đức Phật chỉ dạy cho các đệ tử hãy chiêm nghiệm một cách sâu sắc lời dạy của Ngài trước khi ứng dụng. Ngài luôn luôn chủ trương dùng suy luận để vượt qua niềm tin mù quáng«. Đến cuối thế kỷ XX, niềm tin ấy không phải thực sự là chân lý, mà chỉ là chân lý ngẫu nhiên[76], làm sao chúng tôi hình dung ra được điều gì có nghĩa là chân lý mà Đức Phật đề cập đến trong thuật ngữ đương thời?

Đạt-lại Lạt-ma: Đức Phật nói về thực tại. Thực tại chỉ là một, trong thể tính sâu mầâu nhất của nó, nhưng Đức Phật cũng xác định rằng tất cả những tuyên bố về thực tại chỉ là ngẫu nhiên. Thực tại vượt thoát bất kỳ mọi biểu tượng[77] có thể nắm bắt được dù chỉ bằng một ý niệm – đó là những gì Đức Phật diễn đạt qua »tính không«[78]. Do vậy, Phật giáo mạnh mẽ bác bỏ niềm tin mù quáng và sự cuồng tín.

Dĩ nhiên, có nhiều chân lý khác nhau trên nhiều bình diện khác nhau. Các pháp đều thực sự tương quan với các pháp khác: »dài« và »ngắn« có tương quan với nhau; »cao« và »thấp« cũng vậy. Nhưng có chân lý tuyệt đối hay không? Có điều gì thực sự đầy đủ, độc lập trong tự thân các pháp. Tôi không cho là như vậy.

Trong đạo Phật, chúng ta có ý niệm »chân lý không thể nghĩ bàn«, đó là giáo pháp thiết thực và hợp lý cho mọi dạng người và trong mọi hoàn cảnh. Chính đức Phật đã dạy nhiều giáo lý khác nhau cho nhiều hạng người khác nhau qua nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đối với một số người, niềm tin của họ đặt vào một Đấng sáng tạo. Đối với một số người khác, lại tin không có Đấng sáng thế. Chỉ có »chân lý tối hậu« trong đạo Phật là sự phủ nhận tuyệt đối về bất cứ một chân lý nào như là »chân lý tối hậu«.

Thurman: Phải chăng do vì rất nguy hiểm khi một tôn giáo tự cho mình là tôn giáo độc nhất có chân lý?

Đạt-lại Lạt-ma: Đúng vậy, tôi luôn luôn kêu gọi nên theo tinh thần đa nguyên – ý niệm về nhiều tôn giáo, nhiều chân lý cùng tồn tại. Nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng trở thành hư vô đoạn diệt.

Thurman: Ngài cảm nhận như thế nào về tình hình thế giới khi chúng ta tiến dần vào thế kỷ XXI?

Đạt-lại Lạt-ma: Cơ bản là tôi rất lạc quan. Và tôi thấy có 4 lý do cho niềm lạc quan nầy. Trước hết, vào lúc khởi đầu thế kỷ, con người không còn bao giờ đặt vấn đề ảnh hưởng của chiến tranh nữa, không bao giờ nghĩ sẽ có một nền hòa bình thực sự nữa. Vì bây giờ người ta đã chán chiến tranh và thấy chiến tranh thật vô dụng trong việc hóa giải mọi vấn đề.

Thứ hai, cách đây không lâu, con người tin vào ý thức hệ, hệ thống và sự tổ chức để cứu vãn toàn xã hội. Ngày nay, họ đã từ bỏ hy vọng như vậy và quay trở về nương tựa vào chính mình, vào tự do cá nhân, vào sáng kiến và sáng tạo của cá nhân.

Thứ ba, có một thời con người xem rằng tôn giáo đã lỗi thời và khoa học vật chất sẽ giải quyết mọi vấn đề của con người. Bây giờ, họ đã vỡ mộng với chủ nghĩa duy vật và cơ giới, họ đã nhận thức được rằng khoa học tâm linh cũng không thể thiếu được cho sự thịnh vượng của nhân loại.

Cuối cùng, trong thời gian trước của thế kỷ nầy, người ta đã sử dụng quá tải tài nguyên thiên nhiên và xả chất phế thải như thể mọi thứ không hề cạn kiệt. Trong khi ngày nay, ngay đứa trẻ nhỏ nhất cũng có sự quan hệ chân thực với phẩm chất của không khí, nước, rừng cây và với sinh vật.

Bốn phương diện nầy, là một nhận thức mới cho thế giới, một cảm nhận mới về thực tại. Căn cứ vào đó, tôi tin tưởng rằng thế kỷ sắp đến sẽ tốt hơn thế kỷ nầy.

Thurman: Ngài có cho rằng Tây Tạng là một thành viên của thế kỷ mới ấy?

Đạt-lại Lạt-ma: Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Chúng ta đang làm việc hết sức mình như chúng tôi có thể làm. Chúng tôi đang chuẩn bị nghiêm túc cho chính mình, chúng tôi dự tính toàn diện để tham gia vào tình hình thế giới trong thế kỷ tới.


PHẦN 3: NHỮNG BÀI VIẾT VÀ PHÁT BIỂU CỦA

ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA


LÒNG TỪ BI LÀ BIỂU HIỆN CHÂN THỰC CỦA

TINH THẦN BẤT BẠO ĐỘNG

                       Ba

 

Ý tưởng của tôi về trách nhiệm toàn cầu có mối liên quan với truyền thống tôn giáo cổ đại Ấn Độ. Là một tăng sĩ Phật giáo, nên toàn bộ công phu tu tập của tôi có cội nguồn xuất phát từ nền văn hóa của quốc gia vĩ đại nầy. Ông Morarji Desai, viết trong một lá thư gởi cho tôi, mô tả một hình ảnh rất đẹp: »Cây Bồ-đề có hai nhánh, một nhánh là Ấn Độ, và nhánh kia là Tây Tạng«. Từ quan điểm văn hóa và tâm linh, chúng ta giống như là một thực thể. Về mặt cảm tính, tôi cũng cảm thấy rất gần gũi với đất nước nầy. Trong thời cổ đại, từ Ấn Độ đã xuất sinh nhiều nhà tư tưởng vĩ đại. Trí tuệ của các ngài đã ban tặng rất nhiều cho sự tiến bộ tâm linh nhân loại. Ngay cả ngày hôm nay, Ấn Độ là một niềm khích lệ vì tiếp cận được với nhiều lợi thế lớn lao cho một nền dân chủ thịnh vượng.

Tư tưởng bất hại [79] hay bất bạo động (non violence) là một tư tưởng mạnh mẽ đã được Mahatma Gandhi phổ biến rộng rãi khắp cả thế giới. Bất bạo động còn mang một điều gì có ý nghĩa hơn, tích cực hơn như thế nữa. Biểu hiện chân thực của tinh thần bất bạo động là lòng từ bi. Một số người dường như cho rằng lòng từ bi chỉ là một lối cảm xúc thụ động được đáp ứng thay vì tác nhân kích thích hợp lý đến hành động. Để trải nghiệm lòng từ bi chân thực, là phải có sự phát huy cảm giác thân mật với người khác, kết hợp với ý thức trách nhiệm đối với lợi lạc của họ. Lòng từ bi chân chính phát triển khi chính chúng ta có ước nguyện đem sự an lạc đến và giải trừ khổ đau cho người khác, và nhận thức rằng mọi người có quyền theo đuổi mục tiêu nầy.

Lòng từ bi thúc giục chúng ta tiếp xúc với tất cả các loài hữu tình, gồm cả giới được gọi là kẻ thù, những người gây rối và não hại chúng ta. Bất chấp những gì họ đã gây nên cho các bạn, nếu như các bạn nghĩ rằng mọi chúng sinh như bạn đều chỉ có một nỗ lực để được sống an vui, thì các bạn sẽ tìm ra được phương cách dễ dàng hơn nhiều để phát triển lòng từ bi về phía họ. Ý thức về lòng từ bi thường thường bị hạn cuộc và thiên vị. Chúng ta chỉ ban rãi tình cảm nầy đến cho gia đình và bạn bè ta, hoặc những người giúp đỡ mình nhiều hơn. Người mà ta xem như kẻ thù và những người xa lạ là chúng ta có sự phân biệt ngay và gạt ra khỏi mối quan tâm của ta. Đó không phải là lòng từ bi chân chính. Lòng từ bi chân thực là phổ quát trong cả không gian. Nó được đồng hành bởi cảm giác trách nhiệm. Để thực hành hạnh lợi tha, không chỉ quan tâm đến lợi hại của người khác, với tính không vị kỷ hoặc động cơ kín đáo, chính là xác định một ý thức trách nhiệm về toàn thể.

Là một tăng sĩ Phật giáo, sự tu dưỡng tâm từ bi là một phần quan trọng trong công phu hàng ngày. Thiền quán, một dạng công phu chỉ liên quan đến việc ngồi tĩnh tâm ở trong phòng, công phu ấy rất tốt và lợi ích, nhưng mục tiêu chân chính của tu dưỡng lòng từ bi là phát huy nỗ lực nghĩ đến tha nhân và làm gì đó lợi lạc cho họ. Chẳng hạn, là một Đạt-lại Lạt-ma, tôi có trách nhiệm đối với đồng bào Phật tử của tôi, một số đang sống lưu vong và một số còn sống trong nước Tây Tạng. Trách nhiệm nầy có nghĩa là tôi phải đương đầu và giải quyết rất nhiều vấn đề.

Chắc chắn là thiền quán thì dễ hơn thực sự làm điều gì đó cho mọi người. Đôi khi tôi thấy rằng chỉ quán chiếu về lòng từ bi là chọn lựa một phương pháp thụ động. Công phu thiền quán của chúng ta nên phát xuất từ nền tảng của hành động, là nắm bắt cơ hội để thực hành. Động cơ của thiền giả; ý thức trách nhiệm toàn cầu, nên được biểu hiện thực sự. Dù chúng ta là người giàu hay nghèo, có học hay mê muội, bất luận quốc tịch, sắc tộc, hay tình trạng xã hội, hay ý thức hệ nào, thì mục đích của đời sống chúng ta là mong ước được hạnh phúc. Do điều nầy, sự phát triển vật chất đóng một vai trò quan trọng để gieo trồng một sự phát triển trong tương quan nội tại. Trừ phi tâm ta được vững chãi và an tịnh, thì bất luận mọi điều kiện thuận lợi về vật chất nào có lẽ đều sẽ mang đến cho ta những điều không an lạc. Do vậy, chìa khóa của cuộc sống hạnh phúc, cho bây giờ và tương lai, là phát triển tâm an lạc.

Một trong những cảm giác quấy nhiễu tâm an tịnh là lòng thù hận. Chất hóa giải là lòng từ bi. Chúng ta đừng nên nghĩ về lòng từ bi chỉ hiện hữu trong phạm vi thần bí hoặc tôn giáo. Đó là một trong những phẩm chất cơ bản của con người. Bản tính của loài người chủ yếu là yêu thương và hòa dịu. Tôi không đồng ý với những người cho rằng loài người có bản tính hung hãn, cho dù sự biểu lộ khá phổ biến của tình trạng chống đối và thù hận nhau khắp trên thế giới. Ngay từ thuở mới sinh ra, chúng ta đã cần có tình thương và sự trìu mến. Đây là sự thật đối với tất cả chúng ta, ngay cho đến ngày chúng ta từ giã cõi đời. Không có tình thương, chúng ta không thể sống còn. Loài người là một sinh vật có tính xã hội và mối tương quan lẫn nhau là tính chất rất căn bản của đời sống hợp quần. Nếu chúng ta dừng lại để suy nghĩ, so sánh vô số hành vi từ ái mà ta tùy thuận và những hành vi từ ái mà ta xem là đương nhiên, ta sẽ thấy được những hành động thù nghịch tương đối ít. Để thấy được chân lý nầy, chúng ta chỉ cần quan sát tình thương và lòng trìu mến từ cha mẹ thổ lộ qua con cái và những hành vi yêu thương và chăm sóc mà ta xem là đương nhiên.

Sự nôn nóng có vẻ như ban tặng một lực đẩy để thực hiện mọi việc, nhưng nhận thức như thế về toàn cảnh thế giới thì rất lầm lạc. Chỉ có điều chắc chắn là, sự nóng giận và thù hằn đó là sự phá hủy, không có điều thiện nào đến từ nóng giận và hận thù. Nếu chúng ta tiếp tục sống một cuộc đời được điều động bởi hằn thù và nóng giận, ngay cả thể lực của ta cũng bị xấu đi. Mặt khác, những người duy trì được sự tĩnh tâm và lòng bao dung, xuất phát bởi lòng từ bi thì tâm họ thoát khỏi mọi lo âu và thể chất được mạnh khỏe.

Lúc mà mọi người đều chú tâm vào việc duy trì thể chất được mạnh khỏe bằng cách ăn kiêng, tập thể dục... nó cũng tạo nên ý thức cố gắng vun trồng vị trí tương quan với phong thái tâm linh.

Từ lâu tôi đã đề cập đến quan điểm tích cực có thể ảnh hưởng đến một cá nhân. Đó cũng là sự thực khi một xã hội càng thấm nhuần lòng từ bi, thì những thành viên trong đó càng có hạnh phúc hơn. Sự phát triển xã hội con người hoàn toàn căn cứ vào sự giúp đỡ lẫn nhau giữa mọi người. Mỗi cá nhân có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn cộng đồng theo chiều hướng tốt và chúng ta phải thừa nhận trách nhiệm đó của mỗi thành viên. Nếu chúng ta đánh mất yếu tính nhân bản nầy như chính là nền tảng của chúng ta, thì toàn thể xã hội sẽ suy sụp.

Thế từ quan điểm nào mà ta theo đuổi sự phát triển vật chất và chúng ta đòi hỏi nhân quyền với ai? Hành động xuất phát từ lòng từ bi và trách nhiệm rốt ráo sẽ mang đến kết quả tốt. Nóng giận và đố kỵ sẽ có ảnh hưởng chỉ trong thời gian ngắn, nhưng rốt cục chỉ mang đến cho ta sự ưu phiền.

Sợ hãi là một chướng ngại chính khác đối với sự phát triển tâm linh nội tại. Sợ hãi sinh khởi khi chúng ta nhìn mọi người khác với sự ngờ vực. Chính lòng từ bi tạo nên ý thức về sự tin cậy cho phép chúng ta cởi mở với người khác và tiết lộ mọi vấn nạn, nghi ngờ và do dự. Không có lòng từ bi, chúng ta không thể cộng thông với mỗi người một cách chân thực và cởi mở. Do vậy, phát triển lòng từ bi là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để giảm trừ sợ hãi.

Từ bi là phẩm chất cơ bản của con người, thế nên sự phát triển của nó không giới hạn trong những người tu tập. Tuy nhiên, truyền thống tôn giáo có một vai trò đặc biệt để khuyến khích cho sự phát triển nầy. Yếu tố chung trong các tôn giáo là, dù có bất kỳ sự khác biệt nào về triết học, sự tương quan chủ yếu vẫn là sự trợ giúp cho tín đồ của mình trở thành con người hoàn thiện hơn. Theo đó, mọi tôn giáo đều khuyến khích thực hành lòng từ bi, lòng bao dung và quan tâm đến người khác. Đây là lý do tôi nhận thấy những cuộc đấu tranh xuất phát từ sự kỳ thị tôn giáo là đáng buồn và vô nghĩa.

Niềm tin của tôi, và nói chung của cả thế giới, là xem lòng từ bi quan trọng hơn »tín ngưỡng«. Dân số trên hành tinh chúng ta có hơn năm tỷ người. Trong số này, có lẽ có một tỷ người thực hành và có lòng tin chí thành vào một nghi thức tôn giáo. Bốn tỷ còn lại không phải là những tín đồ với ý nghĩa chân chính. Nếu chúng ta xem sự phát huy lòng từ bi và những phẩm chất tốt lành khác không như là công việc riêng của tôn giáo, thì hơn bốn tỷ người kia (chiếm đa số), sẽ bị loại trừ. Chúng ta như là huynh đệ của nhau, là thành viên của một gia đình vĩ đại, mỗi người trong cộng đồng nầy đều có tiềm năng để làm tăng trưởng bởi nhu cầu của lòng từ bi được phát triển và nuôi lớn mà không cần phải theo một tôn giáo nào hay cần phải thực hành một pháp tu đặc biệt nào cả. Ngày hôm nay, chúng ta phải đối diện với những vấn đề toàn cầu như nghèo đói, thặng dư dân số. Và sự phá hủy môi trường. Đây là những vấn đề mà chúng ta phải cùng nhau trao đổi, không có một cộng đồng đơn độc hoặc một quốc gia riêng lẻ nào có thể hy vọng giải quyết riêng các vấn đề ấy được. Điều nầy biểu hiện phương cách mà thế giới chúng ta trở nên tương duyên với nhau hơn. Nền kinh tế toàn cầu cũng trở nên hợp nhất một cách mạnh mẽ hơn, đến nỗi kết quả cuộc bầu cử của một quốc gia cũng có thể ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán của các nước khác.

Thời cổ đại, mỗi làng nhiều ít đều có tính chất tự túc và độc lập. Không có nhu cầu cũng như không có mong muốn hợp tác với những đơn vị khác bên ngoài làng của mình. Họ sống bằng cách làm những điều mình cần. Tình thế ngày nay đã hoàn toàn đổi khác. Chỉ nghĩ về những điều thuộc về riêng quốc gia hay quê hương mình thì cũng đã trở nên lạc hậu, đừng nói gì đến làng mình. Trách nhiệm toàn thể là chìa khóa chân thực để vượt qua mọi vấn đề của chúng ta hiện nay. Nước Ấn Độ tân tiến đang đương đầu với rất nhiều vấn đề. Những sáng kiến và ý tưởng mới sẽ đánh giá cao tầm mức và di sản của đất nước. Ấn Độ không những có trách nhiệm bảo đảm hạnh phúc tương lai cho dân tộc của riêng mình, mà còn cung ứng những nhà lãnh đạo tinh thần cho thế giới nữa. Khi Ấn Độ đấu tranh giành tự do thì những cá nhân thực sự quan tâm đến hạnh phúc của loài người sẽ tìm đến bằng sự hy sinh cá nhân to lớn để đón nhận sự dẫn dắt tâm linh. Họ đã có sẵn tinh thần can đảm và quả quyết để đương đầu với gian nguy. Ngày nay, có lẽ có nhiều hơn trong quá khứ, có một nhu cầu lớn lao về loại người chân chính và sẵn sàng dâng hiến như vậy. Đây không phải là thời của những con người đắm mình trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc hẹp hòi riêng tư. Ấn Độ cần những con người có thể hợp nhất di sản tâm linh phong phú của mình với thế giới hiện đại, và cần những người can đảm từ bỏ tức khắc những mối bận tâm riêng tư để hướng về sự toàn thiện vĩ đại. Đây chính là biểu tượng chính xác nhất về tính trách nhiệm toàn cầu.


NHÂN DUYÊN SINH

 

 

L.G.T: Bài giảng nầy gồm hai đề tài: »Nhân duyên sinh« (Depending Arising) và »Tam độc« (The Three Poisons) được đức Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyalso trình bày bằng tiếng Tây Tạng, Giáo sư Jeffrey Hopkins thuộc viện đại học Virginia, Hoa Kỳ dịch sang tiếng Anh và được Nhà xuất bản Wisdom Publications ấn hành năm 1992.

 

 

  Nhân duyên sinh là triết học phổ thông trong tất cả các hệ thống Phật học, mặc dù có rất nhiều cách giải thích khác nhau về nó. Trong thuật ngữ Sanskrit, pratītyasamutpāda được chỉ cho »nhân duyên sinh«. Trong đó, chữ pratiya có ba nghĩa khác nhau: gặp gỡ, dựa vào và tùy thuộc – nhưng trong cả ba nghĩa ấy, trong phạm trù ý nghĩa căn bản, thì nó có nghĩa là tùy thuộc. Samutpada có nghĩa là sinh khởi. Bởi vậy, ý nghĩa của Pratītyasamutpāda là sự sinh khởi tùy thuộc vào những điều kiện, nhờ vào nhiều điều kiện và thông qua lực tác động của các điều kiện khác nhau. Trên bình diện vi tế, đó là sự giải thích lý do chính tại sao các hiện tượng không tồn tại trên cơ sở tự tính[80].

Khi đức Phật đưa ra thuyết 12 nhân duyên, là Ngài nói từ cái nhìn siêu tuyệt và với ý nghĩa vô cùng rộng lớn. Ngài dạy 12 nhân duyên trong kinh Đạo can[81] rất chi tiết, vì trong các bài pháp khác, trong bối cảnh đức Phật trả lời khi có thính chúng đặt vấn đề. Trong kinh nầy, đức Phật nói về nhân duyên sinh trong ba cách:

Do sự hiện hữu của cái nầy, mà cái kia sinh khởi

Do sự sinh ra của cái nầy, nên cái kia được sinh ra.

Có nghĩa như thế nầy: Do vô minh[82] mà có hành[83] (hành động tạo tác), do hành nên có thức[84], do thức nên có danh sắc[85], do danh sắc nên có lục nhập[86], do lục nhập nên có xúc[87], do xúc nên có thọ[88], do thọ nên có ái[89], do ái nên sinh thủ[90], do thủ nên sinh ra hữu[91] (bình diện tiềm ẩn của nghiệp), do có hữu nên có sinh[92] và do có sinh nên có lão tử[93].

Trong dòng đầu tiên, đức Phật nói: »Do sự hiện hữu của cái nầy mà cái kia sinh khởi«. Đức Phật muốn xác định rằng vòng sinh khởi luân hồi của các hiện tượng không thông qua một lực siêu nhiên bởi một vị thần thường hằng vĩnh cửu mà do một chuỗi những điều kiện đặc biệt. Chỉ do sự hiện hữu của các nhân và duyên đặc biệt nầy mà có sự sinh khởi thành các kết quả đặc biệt.

Trong dòng thứ hai, khi đức Phật nói:

»Do sự sinh ra của cái nầy nên cái kia được sinh ra«

Đức Phật nhằm xác định rằng một hiện tượng thường tại, không sinh khởi như một bản chất chung như tư tưởng mà hệ phái Số luận[94] chủ trương thì không thể lập nên một chức năng tạo ra kết quả (là cái kia) được. Đúng hơn, vòng triển chuyển luân hồi của các hiện tượng sinh khởi từ nhân duyên vốn là vô thường từ trong bản chất.

Như thế sẽ phát sinh một vấn đề: nếu vòng triển chuyển luân hồi của các hiện tượng được sinh ra từ các điều kiện mang tính vô thường, liệu các hiện tượng ấy có được sinh ra chỉ từ bất kỳ yếu tố vô thường nào đó chăng? Yếu tố nầy chắc là sẽ không đủ. Vậy nên, trong ý thứ ba, đức Phật xác định rằng vòng triển chuyển luân hồi của các hiện tượng không chỉ phát sinh chỉ từ bất kỳ yếu tố nhân duyên vô thường nào đó, mà đúng hơn, phát sinh từ những nhân duyên đặc biệt có tiềm năng tạo nên sự sinh khởi các hiện tượng đặc biệt.

Khi đưa ra vấn đề duyên sinh của khổ, đức Phật muốn hiển bày cái khổ ấy có sự mê mờ như là nguyên nhân cội gốc. Hạt giống bất tịnh, mê lầm nầy tạo tác nên hành động lưu giữ trong tâm thức một tiềm lực khiến sẽ phát khởi nỗi khổ do tái sinh thân mới trong vòng luân hồi sinh tử. Cuối cùng, kết quả kéo dài đến khâu cuối cùng của vòng nhân duyên sinh, cái khổ của lão tử.

Với cái nhìn về mười hai nhân duyên, căn bản có hai cách giải thích, một là trong chiều hướng nhiễm ô phiền não, và một cách khác theo chiều hướng thanh tịnh. Ngay trong Tứ diệu đế là giáo lý căn bản của đạo Phật, cũng có hai chiều hướng về nguyên nhân và kết quả, một chiều hướng do thành phần nhiễm ô của các hiện tượng và chiều hướng khác do thành phần thanh tịnh, nên ở đây, pháp mười hai nhân duyên đều có những tiến trình liên quan đến cả hai hiện tượng nhiễm ô và thanh tịnh. Từ trong Tứ Diệu Đế, khổ đế – chân lý thứ nhất – là bị ảnh hưởng của chiều hướng nhiễm ô của thế giới hiện tượng. Và tập đế chân lý thứ hai, là nguyên nhân của khổ đế. Trong chiều hướng thanh tịnh của hiện tượng giới và diệt đế – chân lý thứ ba là do ảnh hưởng từ chiều hướng thanh tịnh, và đạo đế, chân lý thứ tư – là nguyên nhân của diệt đế.

Tương tự, khi giải thích mười hai nhân duyên, nhờ có điều kiện là vô minh mà hành sinh khởi và cứ thế... đó là cách giải thích theo chiều hướng nhiễm ô, và khi được giải thích nhờ vào sự chuyển hóa vô minh mà hành không sinh khởi, và cứ thế... là theo chiều hướng thanh tịnh. Cách giải thích thứ nhất theo tiến trình sinh khởi của khổ, cách thứ hai theo tiến trình chuyển hóa của khổ.

Để lập lại. Mười hai nhân duyên xuất phát từ tiến trình nhiễm ô phiền não và xuất phát từ tiến trình thanh tịnh hóa. Và mỗi tiến trình được trình bày theo thứ tự thuận và nghịch.

Như vậy, theo tiến trình thuận, mười hai nhân duyên được giải thích như sau:

Do nhân duyên vô minh, nên hành sinh khởi

Do nhân duyên là hành, nên thức sinh khởi

Do nhân duyên là thức, nên danh sắc sinh khởi

Do nhân duyên là danh sắc, nên lục nhập sinh khởi

Do nhân duyên là lục nhập, nên xúc sinh khởi

Do nhân duyên là xúc, nên thọ sinh khởi

Do nhân duyên là thọ, nên ái sinh khởi

Do nhân duyên là ái, nên thủ sinh khởi

Do nhân duyên là thủ, nên gọi là hữu (bình diện tiềm ẩn của nghiệp), sinh khởi.

Do nhân duyên là hữu, mà sinh sinh khởi

Do nhân duyên của sinh, mà lão tử sinh khởi

Vì lối này nhằm vào diễn đạt cách mà khổ được phát sinh, đó là cách giải thích nguồn gốc tại sao mà khổ được hiện hành. Trong chiều nghịch, mười hai nhân duyên được giải thích như sau:

Cái khổ không mong muốn (lão tư)û, được phát khởi tùy thuộc vào sự hiện hữu của yếu tố sinh..

Yếu tố sinh được phát khởi tùy thuộc vào bình diện tiềm ẩn của nghiệp được gọi là hữu

Hữu phát sinh tùy thuộc vào thủ

Thủ phát sinh tùy thuộc vào ái

Ái phát sinh tùy thuộc vào thọ

Thọ phát sinh tùy thuộc vào xúc

Xúc phát sinh tùy thuộc vào lục nhập

Lục nhập phát sinh tùy thuộc vào danh sắc

Danh sắc phát sinh tùy thuộc vào thức

Thức phát sinh tùy thuộc vào hành

Hành phát sinh tùy thuộc vào vô minh.

Ở đây nhấn mạnh vào chân lý thứ nhất trong Tứ diệu đế, chính khổ đế là quả.

Thế nên trong tiến trình thanh tịnh hóa[95], mười hai nhân duyên được giải thích như sau:

Khi vô minh đã được chuyển hóa thanh tịnh rồi thì hành không còn sinh khởi

Khi hành diệt thì thức diệt

Khi thức diệt thì danh sắc diệt

Khi danh sắc diệt thì lục nhập diệt

Khi lục nhập diệt thì xúc diệt

Khi xúc diệt thì thọ diệt

Khi thọ diệt thì ái diệt

Khi ái diệt thì thủ diệt

Khi thủ diệt thì bình diện tiềm ẩn tạo nghiệp gọi là »hữu« diệt

Khi »hữu« diệt, thì sinh không hiện hành

Khi sinh không hiện hành thì lão tử diệt.

Cách giải thích nầy nhắm đến chiều hướng thanh tịnh hóa các hiện tượng, nhấn mạnh vào nguyên nhân, đó là đạo đế trong Tứ diệu đế.

Theo thứ tự chiều nghịch, có thể giải thích: Tiến trình chuyển hóa (nguyên nhân) sinh khởi của lão tử là tùy thuộc vào sự tiêu diệt tiến trình sinh.

Tiến trình sinh được chuyển hóa tùy thuộc vào sự tiêu diệt bình diện tiềm ẩn của nghiệp được gọi là hữu.

Sự chuyển hóa của »hữu« có được là tùy thuộc vào sự tiêu diệt của thủ.

Sự chuyển hóa của thủ có được là nhờ vào sự tiêu diệt của ái

Sự chuyển hóa của ái có được là nhờ vào sự tiêu diệt của thọ.

Sự chuyển hóa của thọ có được là nhờ vào sự tiêu diệt của xúc.

Sự chuyển hóa của xúc có được là nhờ vào sự tiêu diệt của lục nhập.

Sự chuyển hóa của lục nhập có được là nhờ sự tiêu diệt của danh sắc.

Sự chuyển hóa của danh sắc có được là nhờ sự tiêu diệt của hành.

Sự chuyển hóa của hành có được là nhờ sự tiêu diệt của vô minh.

Ở đây, các tiến trình ấy được miêu tả qua một bức tranh gọi là bánh xe luân hồi gồm năm ngăn. Cảnh giới của các vị Thiện thần và Á thần[96] được mô tả cùng trong một ngăn, cảnh giới của loài người được mô tả trong một ngăn. Hai ngăn nầy hàm nghĩa sự luân chuyển theo chiều hướng thiện lành, an lạc, được mô tả ở phần trên của bánh xe luân hồi. Ba ngăn còn lại được bố trí ở phần nửa dưới của bánh xe, hàm nghĩa sự tái sinh ở các cảnh giới thấp kém và khổ cực – đó là cảnh giới của loài vật, quỷ đói và địa ngục. Tất cả các ngăn nầy đều biểu tượng cho các bình diện khổ trong tiến trình sinh khởi.

 

BA MÓN ĐỘC

 

Vòng tròn được mô tả bên trong có năm ngăn biểu tượng cho sự sinh hoạt ở các cảnh giới là những bình diện khác nhau của khổ, được phát sinh qua nghiệp đã tạo (karma). Vòng tròn có hai phần. Nửa phần ở phía trên, có nền màu trắng, với hình vẽ con người nhìn và di chuyển hướng lên phía trên, biểu tượng cho các nghiệp thiện lành. Có hai dạng, chí thiện và kiên định, những nghiệp như vậy có nghĩa là sẽ thọ nhận cuộc sống là người, á thần, hay thiện thần. Nửa phần kia của vòng tròn, có nền màu xám, với những hình người hướng xuống dưới, biểu tượng cho nghiệp bất thiện, bắt buộc phải thọ thân trong những cảnh giới thấp kém hơn.

Từ yếu tố nào mà những nghiệp nầy được xem là nguồn gốc tạo thành nỗi khổ? Xuất phát từ một nguồn gốc xa hơn của sự khổ đau – đó là tham muốn, sân hận và si mê được trình bày ở phần trung tâm nhất của vòng tròn, nơi có một con heo, một con rắn, một con gà trống quấn quít nhau (miệng con vật nầy ngậm đuôi con vật kia, tạo thành một vòng tròn). Con heo biểu tượng cho si mê, con rắn biểu tượng cho sự sân hận, con gà biểu tượng cho lòng tham lam.

Trong một vài phiên bản khác, đuôi của con gà trống và đuôi rắn được ngậm bởi con heo, biểu tượng rằng tham lam và sân hận có cùng gốc rễ là si mê. Cũng vậy, đuôi của con heo lại được gà và rắn ngậm biểu tượng mỗi thể hiện của tham, sân, sẽ tác động lại vào sự phát sinh của si mê (vô minh).

Biểu tượng của ba vòng tròn nầy, từ trong ra ngoài, là tướng trạng của ba món độc: tham, sân và si (vô minh), khiến tạo nên các nghiệp thiện và bất thiện, mà đến lúc, sẽ tái hiện nên những bình diện khổ khác nhau trong cuộc luân hồi sinh tử. Vành ngoài biểu tượng cho mười hai nhân duyên, giải thích thế nào là nguồn gốc của khổ – nghiệp và ba món độc – tạo nên sự sống trong vòng sinh tử luân hồi – vị ác thần (ma vương) ngậm bánh xe biểu tượng cho vô thường. Tôi nói có vẻ khôi hài, vì đó không phải là biểu tượng của vị thần sáng tạo!

Điểm cốt yếu là biểu tượng về vô thường, đây là lý do có vị ác thần phẫn nộ miệng ngậm vòng tròn, mặc dù không cần phải trang hoàng hình ảnh như vậy ở nơi đây. Có lần tôi nhờ người vẽ một bức tranh như vậy, trình bày với bố cục nền là một vị thần chỉ để biểu tượng rõ nét hơn về vô thường.

Mặt trăng ở phía góc phải biểu tượng cho sự giải thoát. Hình ảnh đức Phật ở bên trái đang chỉ mặt trăng, biểu tượng rằng sự giải thoát sẽ giúp cho con người vượt qua biển khổ luân hồi sinh tử, là điều mọi người nên thực chứng.

Nhìn về lịch sử của bức tranh nầy, vào thời đức Phật Thích-ca Mâu-ni còn tại thế, một vị vua trị vì một lãnh thổ xa xôi, tên Ưu-điền[97] (udyana) gởi tặng quốc vương Tần-bà-sa-la (Bimbisara) nước Ma-kiệt-đà   (magadha) một món quà là chiếc ngự bào bằng ngọc quý. Quốc vương Ma-kiệt-đà  không tìm ra một món quà nào có giá trị tương xứng để tặng lại vua Ưu-điền. Quốc vương Tần-bà-sa-la (s: Bimbisāra)  lo nghĩ rất nhiều, bèn đến thỉnh ý đức Phật. Đức Phật bảo rằng Quốc vương nên cho người vẽ một vòng luân hồi có năm ngăn và gởi kèm theo bài kệ nầy:

Hành trì theo giáo lý của đức Phật

Thực hành điều thiện và từ bỏ việc ác

Sẽ phá được thế lực của thần chết.

Cũng như con voi phá ngôi nhà tranh.

Những người thường chú tâm tinh tấn

Thực hành giáo lý tinh nghiêm nầy.

Nhờ chuyển hoá luân hồi sinh tử

Nên khổ đau sẽ được tiêu trầm.

Mười hai nhân duyên được biểu tượng bằng mười hai hình ảnh bố trí quanh vòng ngoài. Trước hết, trên đỉnh, là một người già cả, mù lòa đang chống gậy – biểu tượng cho vô minh, là nhân duyên thứ nhất. Trong ngữ cảnh nầy, vô minh là sự tối tăm mê muội – đặc biệt đối với dạng thực tế sống động của các hiện tượng. Vì từ đó, các trường phái triết học Phật giáo có bốn hệ thống giáo lý chính và trong những trường phái nầy, lại còn có nhiều hệ phái khác nhau, có rất nhiều cách hiểu vô minh là gì? Không những chúng ta không có thời gian để thảo luận về tất cả các giáo lý nầy, mà cả tôi cũng không nhớ hết được các giáo lý ấy.

Nói chung, đối với vô minh, có một yếu tố chính là bất khả tri về cách mà các pháp hiện hữu, một yếu tố không gì hơn là tối tăm mê muội. Cũng thế, trong kinh luận có diễn tả 19 loại khác nhau của vô minh – những thứ tà kiến liên quan đến các cực đoan. Tuy nhiên, trong phạm trù 12 nhân duyên trong bài nầy, vô minh được giải thích như là tâm thức điên đảo dẫn đến nhận thức sai lầm về cách mà các pháp thực sự hiện hữu như thế nào.

Vô minh là chủ tể của các món độc mà chúng ta đang xác định để loại trừ, mỗi món độc có hai dạng: bẩm sinh và thu thập qua tri thức hiểu biết. Các món độc do tri thức hiểu biết xuất phát từ sự thiếu sự thâm nhập tường tận vào hệ thống các giáo lý, dẫn đến tình trạng tâm thức quy lỗi hay tạo nên những phiền não mới thông qua khái niệm. Đây không phải là những món độc mà các loài hữu tình thường có và không thể là cái mà ở ngay căn để của sự hoại diệt của từng sinh thể. Cái sau mới là bẩm sinh.

Như Bồ-tát  Long Thọ phát biểu trong »Thất thập không tính luận tụng«[98]:

»Những pháp được nhận biết qua tâm thức – được phát sinh nhờ vào các nhân duyên – cho đến sự hiện hữu tuyệt đối (của các pháp). Đều được đức Phật nói là do vô minh. Từ đó mà mười hai nhân duyên sinh khởi.«

VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TÍNH ĐẠO ĐỨC

TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI SỰ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

 

Nguy cơ đối với hòa bình và sự tồn tại của sự sống trên trái đất, như chúng ta biết, đó là sự báo trước về hành vi của con người trong việc thiếu tôn trọng những giá trị nhân văn.

Sự phá hủy bản chất và tài nguyên thiên nhiên là kết quả của vô minh, lòng tham và thiếu sự quý trọng đời sống sinh vật trên trái đất.

Sự thiếu quý trọng này lan đến ngay cả hậu duệ của con người trên trái đất: thế hệ tương lai sẽ thừa hưởng một hành tinh mênh mông bị xuống cấp nếu hòa bình thế giới không trở thành một hiện thực, và sự phá hủy môi trường tự nhiên vẫn tiếp tục với mức độ như hiện nay.

Tổ tiên chúng ta đã có quan niệm trái đất nầy giàu có và phong nhiêu, như nó đang là. Nhiều người trong quá khứ cũng đã thấy thiên nhiên có khả năng chịu đựng vô hạn, như bây giờ ta thấy được qua trường hợp nếu ta biết chăm sóc cẩn thận đến trái đất. Không dễ tha thứ sự hủy hoại trong quá khứ mà kết quả là do sự vô minh. Ngày nay, tuy vậy, chúng ta đã tiếp nhận được nhiều thông tin, và rất thiết yếu để chúng ta khảo sát lại một cách thẳng thắn những gì ta thừa kế được, những gì ta phải chịu trách nhiệm và những gì chúng ta sẽ vượt qua để tiến đến thời kỳ phát triển.

Rõ ràng đây là thời kỳ phát triển then chốt. Thông tin trên toàn cầu đã dễ dàng. Vậy mà những cuộc đối đầu lại xảy ra thường xuyên hơn là những cuộc đối thoại có ý nghĩa (cho hòa bình), đáng lẽ sẽ được diễn ra.

Các kỳ tích về khoa học và kỹ thuật sẽ xứng hợp nếu không bị quá tải bởi quá nhiều bi kịch hiện thời, như nạn đói trên một phần thế giới, nạn diệt chủng một số sinh vật trên trái đất.

Sự khám phá không gian bên ngoài diễn ra trong lúc những vùng đại dương, biển, nước sạch chính trong lòng đất bị gia tăng ô nhiễm. Và những dạng sinh thể khác của trái đất chưa được biết và hiểu đến.

Nhiều cư dân, sinh vật, thảo mộc, côn trùng và cả những loài vi sinh vật mà ta biết là hiếm, có lẽ đến thế hệ tương lai chẳng thể nào biết được. Chúng ta có năng lực và trách nhiệm. Chúng ta phải hành động trước khi quá trễ.

                   (Bài phát biểu tại Hội nghị công nhận ngày Môi trường          

                                                      Quốc tế 5.6.1986)

 

 

SINH THÁI HỌC VÀ TẤM LÒNG CON NGƯỜI

 

Theo giáo lý đạo Phật, có sự tùy thuộc mật thiết lẫn nhau giữa môi trường thiên nhiên và các loài sinh vật sống trong môi trường đó. Một số bạn tôi vừa nói rằng, về cơ bản, bản chất con người có chút ít tính bạo động, nhưng tôi nói với họ tôi không đồng ý. Nếu chúng ta khảo sát những loài vật khác nhau, chẳng hạn như cọp hay sư tử, chúng ta biết rằng bản tính đã phú cho chúng răng nanh và móng vuốt. Những loài vật hiền từ, như hươu nai, thuần túy ăn cỏ thì dịu dàng hơn, có răng nhỏ hơn và không có móng vuốt. Từ cái nhìn này, chúng ta là loài người, có một bản chất không bạo động. Như đối với vấn đề tồn tại của con người thì loài người vốn có bản chất bất bạo động. Để tồn tại, chúng ta cần phải sống hợp quần. Không có người khác, thì đơn giản là ta không thể sống còn được, đó là luật tự nhiên. Do đó tôi tin một cách sâu sắc bản tính con người vốn là dịu dàng, tôi cảm thấy chúng ta không những nên duy trì tính dịu dàng, quan hệ hiền hòa với bạn hữu là loài người mà cũng là rất quan trọng cần phải trải rộng lòng hiền hòa đó đối với môi trường thiên nhiên nữa. Nói một cách đạo lý, chúng ta nên quan tâm đến toàn thể môi trường chung quanh.

Đến đây lại có một quan niệm khác, không chỉ là vấn đề đạo đức mà là vấn đề sinh tồn của chính mình. Môi trường rất quan trọng không chỉ cho thế hệ nầy mà còn quan trọng đối với thế hệ tương lai.

Nếu chúng ta khai thác quá mức những lợi ích khác từ môi trường bây giờ, thì trong lâu dài, chính chúng ta sẽ chịu đau khổ và các điều kiện sống cũng sẽ thay đổi. Khi chúng thay đổi một cách thảm hại, thì kinh tế và nhiều thứ khác cũng thay đổi theo. Ngay cả sức khỏe thể chất của ta cũng chịu ảnh hưởng rất lớn, nên đây không chỉ là vấn đề đạo đức, mà còn là vấn đề sinh tồn của chính chúng ta.

Do vậy, để thành công trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường thiên nhiên, tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong tất cả là thiết lập một sự quân bình nội tại bên trong chính con người. Sự lạm dụng của mỗi người, có kết quả đe dọa như thế đối với cộng đồng nhân loại, đã phát sinh từ sự thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường. Tôi nghĩ là rất thiết yếu cần phải giúp đỡ mọi người hiểu biết về tầm quan trọng nầy. Chúng ta cần phải giáo dục cho mọi người biết rằng môi trường có một sự phát sinh trực tiếp cho lợi lạc của chúng ta.

Tôi luôn luôn nói về tầm quan trọng của lòng từ bi. Như tôi đã nói trước đây, dù ngay trong quan niệm ích kỷ của mình, các bạn vẫn cần đến người khác. Thế nên nếu bạn mở rộng sự quan tâm đến lợi lạc của người khác, chia xẻ đau khổ của người khác và giúp đỡ họ, thì rốt cục, các bạn cũng được lợi lạc. Nếu các bạn chỉ nghĩ đến mình và quên bẵng người khác, rốt cục các bạn sẽ bị thiệt thòi. Đó cũng là một điều như luật tự nhiên.

Điều ấy hoàn toàn đơn giản: nếu các bạn không mỉm cười với mọi người, mà nhăn mặt khi thấy họ, thì họ cũng sẽ đáp lại tương tự. Phải không? Nếu các bạn cư xử với mọi người bằng một phong thái rất thân mật, cởi mở, thì họ cũng sẽ đối xử lại với mình như vậy. Mọi người đều muốn có bạn chứ không muốn có kẻ thù. Cách hay nhất để tạo nên bằng hữu là có một tấm lòng nhiệt thành, không phải chỉ là tiền hay quyền lực. Tình bạn có được do tiền và do quyền lực là điều hoàn toàn khác: đó không phải là tình bạn chân chính. Tình bạn chân thực phải thực sự là tình bạn xuất phát từ tấm lòng. Phải vậy không? Tôi luôn luôn nói với mọi người rằng những tình bạn đến khi bạn có tiền và quyền thế thì đó không phải là tình bạn chân thực, đó chỉ là bạn của tiền và quyền thế, vì ngay khi tiền và quyền lực biến mất, những người bạn nầy cũng sẵn sàng ra đi. Họ không đáng tin chút nào.

Tình bạn chân thực gắn bó với các bạn dù bạn thành công hay bất hạnh, và luôn luôn chia xẻ với bạn nỗi buồn và phiền muộn. Cách để tạo được tình bạn như thế không phải bằng sự nóng giận, cũng chẳng phải nhờ có học hay thông minh, mà nhờ có được tấm lòng thánh thiện.

Suy xét sâu sắc hơn, nếu các bạn phải ích kỷ, thì hãy ích kỷ một cách khôn ngoan, đừng ích kỷ với một tâm lượng thiển cận. Vấn đề then chốt là ý thức về trách nhiệm với toàn thể cõi người, đó là cội nguồn đích thực của sức mạnh, cội nguồn đích thực của hạnh phúc. Nếu thế hệ chúng ta khai thác triệt để mọi thứ dùng được – như cây cối, nước, và khoáng sản – không chút lo lắng cho thế hệ mai sau, thế là chúng ta đã sai lầm, có phải vậy không? Nhưng nếu chúng ta có một ý thức chân chính về trách nhiệm đối với toàn thể như một động lực trọng tâm của chúng ta thì sự liên hệ của chúng ta với môi trường sẽ được quân bình, và sự liên hệ với láng giềng, với những người trong nước và ngoài nước cũng đều sẽ được cải thiện.

Vấn đề quan trọng khác là: Cái gì là ý thức? Cái gì là tấm lòng? Ở thế giới Tây phương, trong suốt một hay hai thế kỷ vừa qua đã có sự chú trọng rất lớn vào khoa học và kỹ thuật, là điều liên quan rất lớn với vấn đề. Ngày nay, một số nhà vật lý hạt nhân và các nhà thần kinh học nói rằng khi khảo sát các hạt tử (particles) bằng một phương pháp rất chi tiết, sẽ thấy có một lực ảnh hưởng về phía người quan sát, tức là cái biết[99]. Cái biết nầy là gì? Câu trả lời đơn giản là: Con người, là nhà khoa học. Các nhà khoa học biết bằng cái gì? Bằng bộ não. Nhưng có đến hằng trăm triệu tế bào trong não, mà các khoa học gia phương Tây chỉ mới nhận ra được vài trăm tế bào mà thôi. Bây giờ, dù các bạn có gọi đó là tâm, não hay ý thức, thì vẫn có sự liên quan giữa tâm và não bộ và cũng là mối tương quan giữa tâm và vật. Tôi nghĩ điều ấy rất quan trọng. Tôi thấy có thể nên tổ chức vài cuộc thảo luận về triết học Đông phương và khoa học Tây phương trên cơ sở của sự liên hệ nầy.

Trong mọi hoàn cảnh, ngày nay con người chúng ta quan tâm rất nhiều đến ngoại giới, trong khi thờ ơ hoàn toàn với thế giới nội tâm. Chúng ta rất cần sự phát triển khoa học và vật chất để sinh tồn và gia tăng sự lợi ích và thịnh vượng chung, nhưng song song với nhu cầu đó, chúng ta cũng cần rất nhiều sự bình an tâm thức. Thế mà không một bác sĩ nào có thể chích cho các bạn một mũi thuốc để tạo sự bình an tâm thức, và không có một chợ nào bán sự bình an đó cho các bạn cả. Các bạn có thể mang hàng triệu triệu đôla đến siêu thị để mua bất kỳ thứ gì, nhưng nếu các bạn mang tiền đến đó để hỏi mua sự bình an tâm thức thì ta sẽ cười bạn ngay. Và nếu các bạn đến yêu cầu một bác sĩ điều trị cho bạn có được tâm bình an, thì bác sĩ chẳng giúp gì được cho bạn, ngoại trừ chỉ vài viên thuốc hoặc vài mũi thuốc tiêm vào để giảm cơn đau. Ngay cả các máy vi tính tinh vi cũng không đem đến tâm bình an cho các bạn. Tâm bình an chỉ được lưu hiện từ bản tâm mình. Mọi người đều muốn hạnh phúc, an lạc, nhưng nếu chúng ta so sánh sự an nhàn của bản thân, sự đau khổ của thân với niềm an lạc của tâm và nỗi đau tinh thần, chúng ta sẽ thấy cảnh giới tâm có ấn tượng hơn, hiệu quả hơn và siêu việt hơn. Vậy nên rất xứng đáng khi ứng dụng một phương pháp nào đó để làm lớn mạnh sự bình an của tâm và để làm được việc ấy, điều quan trọng là phải có sự hiểu biết tường tận về tâm. Khi chúng ta nói về sự bảo dưỡng môi trường, là có liên quan đến rất nhiều vấn đề khác. Rốt ráo, sự quyết định là phải xuất phát từ bản tâm, từ tấm lòng của con người. Điểm then chốt là phải có ý thức chân chính về trách nhiệm đối với toàn thể mà nền tảng là lòng từ bi và trí tuệ trong sáng.

 

(Trích từ My Tibet  (Tây Tạng của tôi) – Berkeley 1990)

 

 

TRÁCH NHIỆM TOÀN CẦU VÀ

VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

 

 

Hồi nhỏ, khi còn đang học Phật pháp, tôi đã được dạy một điều quan trọng về thái độ trân trọng đối với môi trường chung quanh. Bài thực tập bất bạo động[100] không chỉ áp dụng trên con người mà đối với tất cả mọi sinh thể – bất kỳ sinh vật nào có tâm thức. Nơi nào có tâm thức, ở đó có sự đau khổ, an lạc, và niềm vui giống nhau. Không một sinh vật nào muốn đau khổ, thay vì vậy, các sinh vật đều muốn hạnh phúc. Tôi tin rằng mọi sinh vật đều chia xẻ những cảm nhận nầy trên một vài bình diện cơ bản.

Trong pháp tu của đạo Phật, chúng tôi đã quá quen với ý tưởng bất bạo động và việc chấm dứt sự khổ đau đã khiến cho chúng tôi có thói quen không sát hại hay phá hủy mọi thứ một cách không phân biệt. Mặc dù chúng tôi không tin rằng cây cỏ, hoa lá có tâm thức, nhưng chúng tôi cũng đối xử với loài thực vật ấy với lòng trân trọng. Nên chúng tôi đã chia xẻ ý thức về trách nhiệm toàn cầu về cả hai phương diện con người và tự nhiên.

Niềm tin của chúng tôi vào sự tái sinh, niềm tin về sự quan tâm của chúng tôi đối với tương lai là một ví dụ. Nếu các bạn nghĩ rằng mình sẽ tái sinh, rất có thể các bạn tự nhủ với mình rằng, mình phải giữ gìn vật nầy, thứ kia vì trong thân tái sinh ở tương lai, có thể mình sẽ tiếp tục sử dụng những thứ nầy. Ngay dù trường hợp có thể bạn tái sinh dưới dạng một sinh thể khác, có thể dù ở hành tinh khác, ý tưởng tái sinh vẫn cho các bạn nguyên nhân để có sự quan tâm trực tiếp đến hành tinh nầy và các thế hệ tương lai.

Ở phương Tây, khi nói đến »loài người«, các bạn thường chỉ nói đến thế hệ con người đang sinh tồn. Lớp người quá khứ đã đi qua. Còn tương lai, là sự chết, thì chưa đến. Ý tưởng của người Tây phương thường mắc phải khía cạnh thực dụng vật chất, chỉ để ý đến thế hệ con người hiện tại.

Cảm nhận của người Tây Tạng về môi trường không căn cứ hoàn toàn vào tôn giáo. Cảm nhận nầy xuất phát từ toàn bộ cách sống của người Tây Tạng, không chỉ xuất phát từ tư tưởng Phật giáo. Chẳng hạn, những quan tâm của Phật giáo ở Nhật Bản, Thái Lan về môi trường khác với sự quan tâm của chúng tôi. Nền văn hóa và phong cách sống của họ không giống chúng tôi. Môi trường độc đáo ở nước tôi ảnh hưởng rất mạnh đến chúng tôi. Chúng tôi không sống trên một hòn đảo nhỏ bị ô nhiễm nặng nề, và xa cách láng giềng đồng loại. Chúng tôi không có cảm giác bị ức chế như nhiều cộng đồng dân cư khác.

Có rất nhiều khả năng để thực tập về tinh túy của một đức tin hay tinh túy của một nền văn hóa mà không cần thực hành đời sống tôn giáo. Nền văn hóa Tây Tạng chúng tôi, mặc dù được thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Phật giáo, mà vẫn không đóng khung trong toàn bộ triết lý Phật giáo. Có lần tôi đề nghị một cơ quan về người Tây Tạng di cư rằng sẽ rất hay khi làm một vài nghiên cứu có bao nhiêu người Tây Tạng có được ảnh hưởng bởi sự tiếp cận với phong cách sống của chính từ Tây Tạng? Những yếu tố gì làm cho người Tây Tạng luôn luôn an vui và trầm tĩnh? Mọi người luôn luôn trông chờ câu trả lời nhờ ở một tôn giáo độc đáo, mà quên rằng môi trường sống của đất nước chúng tôi là một sự khác thường.

Sự quan tâm đến môi trường không nhất thiết phải cần đến thần thánh, thiêng liêng, cũng chẳng phải luôn luôn cần đến lòng từ bi. Người Phật tử chúng ta thể hiện lòng từ bi cho hết thảy chúng sinh, nhưng lòng từ bi nầy không cần thiết phải ban rãi cho mỗi tảng đá, cội cây hoặc cái nhà. Hầu như mỗi chúng ta đều có chút quan tâm về ngôi nhà riêng của mình, nhưng thực sự không cần phải động lòng trắc ẩn với chúng. Chúng ta gìn giữ nó để ta có thể sống an vui. Chúng ta biết để có được cảm giác an lạc, trong ngôi nhà của mình, thì ta phải chăm sóc nó. Thế nên cảm giác của chúng ta có lẽ là về sự quan tâm hơn là lòng trắc ẩn.

Tương tự, hành tinh nầy là nhà của chúng ta, và chúng ta phải giữ gìn nó trong trật tự và phải chăm sóc nó nếu như chúng ta chân thực quan tâm về hạnh phúc của chính mình, cho con cái, bạn bè và các sinh thể khác cùng chia xẻ ngôi nhà lớn nầy với chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ về hành tinh nầy như là ngôi nhà chúng ta hoặc như người mẹ – Mẹ Đất – tự nhiên chúng ta sẽ quan tâm đến môi trường chung quanh ta. Ngày nay chúng ta hiểu được tương lai chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào nhân loại. Nhưng ý tưởng nầy đã thường không rõ ràng đối với ta. Mãi cho đến bây giờ, các bạn mới hiểu ra. Mẹ Đất, bằng cách nào đó, đã quá chịu đựng sự cẩu thả từ thói quen của người giữ nhà. Thế mà những sự tiêu dùng của con người ngày nay, cùng dân số, kỹ thuật công nghệ đã đến mức mà Mẹ Đất không còn chấp nhận sự hiện hữu của chúng ta bằng sự im lặng. Bằng nhiều cách. Mẹ Đất không nói với ta: »Các con tôi xử sự không đẹp«, mà Mẹ Đất chỉ cảnh báo cho chúng ta biết rằng hành động của chúng ta đã đến mức giới hạn.

Thái độ của người Phật tử Tây Tạng là một biểu hiện của lòng hoan hỷ, và chắc sẽ có vài mối tương quan từ thái độ của chúng tôi với môi trường. Chúng tôi không xài phí vật chất một cách vô tội vạ. Chúng tôi đặt một giới hạn cho việc sử dụng. Chúng tôi tán thán cuộc sống đơn giản và có trách nhiệm cá nhân. Chúng tôi luôn luôn tự xem mình là một thành viên trong môi trường nầy, chứ không phải chỉ là người tham dự. Ngôn ngữ cổ xưa của tổ tiên chúng tôi đã đạt đến đỉnh cao khi đề cập hai chữ: »Vật chứa« và »vật được chứa đựng«[101]. Thế giới là vật chứa – ngôi nhà chúng ta – và chúng ta là vật được chứa đựng trong đó – vật được chứa đựng trong thùng chứa. Từ sự kiện đơn giản nầy, chúng ta rút ra được một sự quan hệ đặc biệt, vì nếu không có thùng chứa, thì vật được chứa không có chỗ để được chứa. Và nếu không có vật được chứa, thì thùng chứa không tồn tại làm gì, thùng chứa thành vô nghĩa.

Trong Năm điểm chương trình hòa bình của tôi đã tuyên bố, Tây Tạng sẽ trở thành một vùng đất hòa bình, trung lập. Tây Tạng là một, mà không qua một nhân danh nào cả. Hòa bình có nghĩa là hòa hợp, hòa hợp giữa người với nhau, hòa hợp giữa người và loài vật, giữa các sinh thể và môi trường. Du khách từ khắp nơi trên thế giới có thể đến Tây Tạng để hưởng hòa bình, hòa hợp. Thay vì xây những khách sạn lớn nhiều tầng, nhiều phòng, chúng tôi sẽ làm những tòa nhà nhỏ, giống những ngôi nhà riêng, thế mới có thể sống hòa hợp tốt hơn với thiên nhiên. Chẳng phải hoàn toàn sai khi con người sử dụng thiên nhiên để làm những điều ích lợi, nhưng chúng ta không được khai thác thiên nhiên một cách không cần thiết.

Rất hay khi sống trong một ngôi nhà, có thuốc để trị bệnh, và được đi đây đó bằng xe hơi. Thẳng thắn mà nói, máy móc cơ khí không phải là thứ xa xỉ, mà có khi rất ích lợi. Chẳng hạn máy quay phim, có thể dùng ghi lại những hình ảnh để phát triển sự hiểu biết.

Nhưng mọi thứ đều có giới hạn của nó. Tiêu dùng quá mức hoặc nỗ lực kiếm tiền là không tốt, sự thỏa mãn thật nhiều nhu cầu cũng không được tốt. Trên nguyên tắc, sự thỏa mãn là một mục tiêu của đời sống, nhưng thuần túy chỉ sống để thỏa mãn sẽ trở nên gần như tự sát. Phải không? Tôi nghĩ rằng người Tây Tạng đã có, trong một lĩnh vực nào đó, thỏa mãn quá nhiều. Và chúng ta đã đánh mất quê hương. Những ngày nầy chúng ta không còn mong thỏa mãn được nhiều từ môi trường nữa.

Hòa bình và sự sinh tồn trên trái đất, như ta thấy, đang bị đe dọa bởi hành vi của con người thiếu sự cam kết về giá trị nhân văn. Sự phá hủy thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên là kết quả của sự thiếu hiểu biết, lòng tham lam và thiếu sự kính trọng sự sống trên mặt đất. Sự thiếu quý trọng nầy lan đến hậu duệ của loài người trên trái đất, thế hệ tương lai sẽ thừa kế một thảm thảo mộc mênh mông đã bị xuống cấp nếu nền hòa bình thế giới không trở thành hiện thực và nếu sự hủy hoại môi trường thiên nhiên vẫn tiếp tục với mức độ như hiện nay.

                                         (My Tibet,  Berkeley 1990.

 

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TRỒNG CÂY

VÀ SỰ BẢO DƯỠNG

 

Tôi vừa đề cập đến vài trường hợp về tầm quan trọng của việc trồng cây, vừa ở Ấn Độ, quê nhà hiện nay của chúng tôi, cũng như ở Tây Tạng. Hôm nay, như một sự biểu hiện của thiện chí, chúng ta cử hành lễ trồng cây nơi chúng ta đang trú ngụ. May mắn thay, cuộc vận động kêu gọi có sự cam kết bảo vệ môi trường thông qua việc trồng cây con và chăm sóc những cây lớn, đang nhanh chóng gia tăng trên toàn thế giới. Trên bình diện toàn cầu, rừng và cây liên hệ rất mật thiết với sự biểu hiện của thời tiết, và cũng duy trì sự quân bình chủ yếu cho thiên nhiên. Bởi vậy, vấn đề bảo vệ môi trường là một trách nhiệm toàn cầu của tất cả chúng ta. Tôi nghĩ rằng cực kỳ quan trọng đối với người Tây Tạng đang sống nơi định cư, không chỉ chú ý sâu sắc đến nguyên nhân của việc bảo vệ môi trường, mà còn thể hiện ý tưởng nầy qua hành động bằng cách trồng nhiều cây con. Theo cách nầy, chúng ta sẽ thực hiện một thiện chí quan trọng cho thế giới, chứng tỏ sự quan tâm đến toàn cầu của chúng ta. Và cùng lúc, tạo nên sự chia xẻ nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa.

Nếu ta nhìn chung quanh, nay chúng ta có thể thấy những ngôi nhà trong tu viện và trong những trang trại nơi người ta đã trồng cây ăn trái, bây giờ họ đã hưởng được lợi lạc lớn lao như là kết quả của việc trồng cây. Trước hết, nếu có một bóng cây trong vườn, nó sẽ làm cho không khí chung quanh một vẻ đẹp an tĩnh và tự nhiên. Dĩ nhiên là các bạn còn ăn được trái cây, ngồi dưới bóng cây và hưởng được bóng mát. Những gì cần thiết trong phần tham gia của bạn là một chút tính kiên nhẫn dành ít thời gian chăm sóc cho cây lớn lên.

Cuối cùng, tôi muốn có một đề nghị. Hãy xem lại việc sử dụng nông trại trong khu định cư. Nơi đây, các bạn đã khởi đầu dự án trồng cây ăn trái trong trang trại. Tôi cho đó là một dự án rất tốt. Qua việc trồng cây ăn trái, không những chúng ta chỉ bảo đảm rằng trang trại vẫn còn màu mỡ, mà chúng ta sẽ còn có trái cây để dùng. Tóm tắt, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa tầm quan trọng vô cùng to lớn khi trồng cây con và bảo vệ những cây đang sống chung quanh mình.

 

   (Diễn văn đọc ngày 6.12.1990 tại buổi lễ trồng cây        

       ở khu định cư Doeguling Tây Tạng của Mundgod,            

        Ấn Độ)

 

 


        QUAN NIỆM CỦA ĐẠO PHẬT VỀ THIÊN NHIÊN

 

 

Tối nay tôi sẽ nói vài điều quan niệm của đạo Phật về thiên nhiên.

Bồ-tát  Long Thọ (Nāgārjuna)  nói rằng: »Trong một hệ thống mà tính Không được biểu hiện, thì tất cả các pháp đều có khả năng (hiện hữu). Nếu không nhờ nghĩa của Không, thì các pháp không thể nào hiện hữu.[102]

Thế nên khi nói về thiên nhiên, thì thiên nhiên cứu cánh là tính không[103] vậy nghĩa của tính không là gì? Đó không phải là tính không của tự nhiên hay của sự hiện hữu độc lập, mà nó có nghĩa là các pháp tồn tại nhờ vào sự tương duyên của rất nhiều yếu tố.

Thế nên dù môi trường đó là nơi cư trú hay là cư dân, cả hai đều là hợp thể của bốn hoặc năm đại chủng căn bản. Những đại chủng đó là đất, nước, lửa, gió và không, đó là hư không. Về hư không, trong Thời luân Tantra[104] có một đề cập về điều được gọi là một chất tử của không, hạt tử của không. Thế mà dạng thể đó lập nên một lực trọng tâm của toàn thể hiện tượng giới. Khi toàn thể hệ thống cơ cấu vũ trụ lần đầu được hình thành, nó đã được tạo ra từ lực trung tâm nầy, đó là hạt tử của không, và cũng là hệ thống của vũ trụ cuối cùng, hệ thống nầy cũng sẽ tan hoại trong chính hạt tử của không ấy. Thế nên về mặt cơ bản của năm yếu tố nầy, có sự tương quan rất mật thiết giữa vùng cư trú, đó là môi trường thiên nhiên và cư dân, đó là các sinh thể đang sống trong môi trường ấy.

Cũng thế, khi ta nói về những đại chủng, có những yếu tố nội tại tồn tại trên cơ sở tự tính (existent inherently) ngay trong sinh thể ấy, cũng có những bình diện khác nhau, một số dạng thô và số khác thì vi tế.

Nên rốt ráo, theo giáo lý đạo Phật, điều vi tế nhất bên trong tâm thức chính là vai trò vi diệu độc nhất của sự sáng tạo, chính là bao gồm năm đại chủng, và tính chất rất vi tế của các đại chủng. Những yếu tố vi tế nầy phân tích ra như những điều kiện tạo ra những yếu tố nội tại để hình thành nên sinh vật, và trở lại tạo nên sự hiện hữu hay sự tiến hóa của những yếu tố bên ngoài. Thế nên có một sự tương phùng rất mật thiết hoặc là sự tương quan giữa môi trường và các sinh thể đang sống trong môi trường ấy.

Trong ý nghĩa của tương duyên[105], có nhiều mức độ khác nhau mà các vật thể nương tựa vào nhau – yếu tố nguyên nhân của nó – hoặc là tâm ý thức thường gán cho nó một nhãn hiệu hoặc một biểu tượng.

Mục tiêu mà chúng ta thảo luận hôm nay là sự tương quan hay tính tương duyên giữa môi trường thiên nhiên và các sinh thể đang sống trong đó.

Bây giờ, các bạn biết đó, có một số bạn tôi nói rằng bản chất con người là bạo động. Tôi bảo với bạn tôi rằng tôi không nghĩ là như vậy. Nếu chúng ta khảo sát nhiều loại động vật có vú, những loài như cọp và sư tử, ta thấy tùy thuộc vào cuộc sống của những sinh vật khác mà có được sự sinh tồn của loài nầy, vì bản tính cơ bản của nó có một cấu trúc rất đặc biệt, răng nanh dài nhọn và móng vuốt rất sắc. Cũng như vậy, những loài vật hiền hòa, như hươu nai, hoàn toàn ăn cỏ, răng và móng của nó hoàn toàn khác, hiền hơn. Nên từ quan điểm nầy, loài người chúng ta thuộc vào loài hiền từ, có phải vậy không? Răng, móng của chúng ta rất hiền. Thế nên tôi nói với người bạn, tôi không đồng ý với quan điểm của bạn. Cơ bản loài người có bản chất không bạo động[106].

Cũng vậy, về vấn đề sinh tồn của con người, loài người là một sinh vật có tính hợp quần. Để sinh tồn, các bạn cần có những nhóm người khác. Không có những con người khác, đơn giản là không có khả năng sinh tồn – đó là quy luật tự nhiên, đó là bản chất.

Bởi vậy, tôi tin tưởng sâu sắc rằng cơ bản loài người thuộc về bản tính dịu hiền, tôi nghĩ là thái độ của con người đối với môi trường cũng nên hiền hòa. Do đó tôi tin rằng không những chúng ta nên giữ mối liên hệ với loài người hiền hòa và không bạo động mà cũng nên có mối quan hệ như thế, cũng quan trọng khi lan tỏa thái độ đó đến môi trường thiên nhiên. Tôi cho rằng nói một cách đạo lý, chúng ta có thể suy nghĩ như thế và chúng ta đều phải nên quan tâm đến môi trường sống quanh mình.

Tôi lại nghĩ đến một quan điểm khác. Trường hợp nầy không phải là vấn đề đạo đức, luân lý, mà là vấn đề sinh tồn của chính chúng ta. Không chỉ cho thế hệ nầy, mà còn cho thế hệ tương lai, môi trường là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta khai thác môi trường bằng một phương pháp cạn kiệt, thì ngày nay chúng ta có thể sẽ có chút ít lợi ích, nhưng trong lâu dài chính chúng ta sẽ chịu đau khổ và thế hệ tương lai cũng sẽ đau khổ.

Thế nên khi môi trường thay đổi, thời tiết khí hậu cũng thay đổi, khi nó thay đổi một cách bi thảm, thì cơ cấu kinh tế và nhiều thứ khác cũng thay đổi – ngay cả thân thể vật lý của ta. Thế nên các bạn có thể thấy ảnh hưởng lớn lao từ sự thay đổi ấy. Từ quan điểm nầy, đây không phải chỉ là vấn đề sống còn của chúng ta. Do vậy, để thành tựu được nhiều kết quả hữu hiệu và để thành công trong việc bảo vệ, giữ gìn môi trường thiên nhiên. Trước hết, tôi nghĩ, cũng rất quan trọng khi làm phát sinh sự quân bình nội tại trong chính con người. Bởi vì sự thờ ơ với môi trường mà đã có hậu quả tai hại rất nhiều đối với cộng đồng nhân loại – xuất phát từ sự mê muội về tầm quan trọng đặc biệt của môi trường. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong tất cả là truyền đạt sự hiểu biết nầy cho mọi người. Thế nên rất quan trọng khi dạy hay nói với mọi người về tầm quan trọng, về lợi ích của chính môi trường.

Kế đến, một điều tối quan trọng khác nữa, như tôi luôn luôn kêu gọi, là tầm quan trọng của lòng từ bi. Như tôi đã đề cập trước đây, dù có xuất phát từ quan niệm ích kỷ của riêng mình, thì các bạn vẫn phải cần đến người khác. Thế nên qua biểu hiện sự quan tâm đến lợi ích của người khác, chia xẻ khổ đau với người khác, và qua sự giúp đỡ người khác, rốt cục mình sẽ được lợi lạc. Còn nếu chỉ nghĩ đến riêng mình và quên người khác, rốt cục mình sẽ thiệt thòi. Đây cũng là điều giống như luật tự nhiên. Tôi nghĩ điều nầy rất đơn giản. Nếu các bạn không biểu lộ nụ cười với người khác, mà biểu hiện một cái nhìn ác cảm, thì người kia sẽ đáp lại một cách xử sự tương tự. Có đúng vậy không? Nếu quý vị dành cho người khác một phong thái chân thành và cởi mở, thì sẽ nhận được sự đáp ứng tương tự. Nên đó là luận lý hoàn toàn đơn giản.

Thực vậy, thời cổ đại, có nhiều nhà tư tưởng cũng như các vị đạo sư tâm linh vĩ đại đã ra đời ở đất nước Ấn Độ nầy, nên tôi cảm thấy trong tương lai, những nhà tư tưởng Ấn Độ vĩ đại, như Mahatma Gandhi, cũng như những nhà chính trị khác, sẽ áp dụng tư tưởng quý báu như Bất hại (ahimsa) vào lĩnh vực chính trị. Theo một phương cách nào đó, chính sách ngoại giao không liên kết cũng có liên quan đến đạo lý nầy. Thế nên tôi suy nghĩ đến tầm mức xa hơn, hoặc sự phát triển rộng hơn về ý tưởng quý báu, hoặc hành động cao quý nầy ở đất nước Ấn Độ là rất thích đáng và rất quan trọng.

Bây giờ trong khía cạnh nầy, có một điều khác mà tôi thấy rất quan trọng là tâm thức. Thế tâm là gì? Cho đến nay, đặc biệt là ở thế giới Tây phương, suốt hai thế kỷ trở lại đây, khoa học kỹ thuật đã chú trọng rất nhiều và chủ yếu là về vật chất. Bây giờ ngày nay một số nhà vật lý hạt nhân và các nhà thần kinh học đã bắt đầu khảo sát, phân tích các chất tử (particles) theo một phương pháp rất chi tiết và sâu sắc. Trong khi tiến hành thí nghiệm, họ tìm thấy có sự tham gia của phía người quan sát, đôi khi họ còn gọi là »cái biết«. Điều gì là »cái biết«? Đơn giản là sự sống, là con người, như nhà khoa học. Bằng cách nào mà các nhà khoa học biết được? Tôi cho rằng nhờ vào bộ óc mà họ biết được. Nay, nói về não bộ, các khoa học gia phương Tây chưa có một định nghĩa gì nhiều hơn về não ngoài hằng trăm triệu tế bào chứa trong não. Còn bây giờ nói về tâm, dù các bạn có gọi tâm là một năng lực đặc biệt của bộ não, hay gọi là ý thức, thì quý vị sẽ thấy rằng có một sự liên hệ rất rõ giữa bộ não, tâm và vật. Tôi nghĩ điều nầy rất quan trọng, tôi thấy nên có vài cuộc đối thoại giữa triết học Đông phương và khoa học Tây phương về nền tảng quan hệ giữa tâm và vật.

            

                     (Bài phát biểu ngày 14.2.1992 ở New Delhi, Ấn Độ)

 

 

 

ĐẠO PHẬT THỰC HÀNH

 

 

Hôm nay tôi rất vui mừng khi được nói chuyện với toàn thể các bạn Phật tử Hoa Kỳ (thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng) ở một tu viện trung tâm Phật giáo Tây Tạng cổ xưa nhất ở Hoa Kỳ. Điều ấy rất khích lệ sự chú ý đến tình hình phát triển hiện thời của Phật giáo Tây Tạng, có chừng 1000 trung tâm ở khắp thế giới, với hơn 250 trung tâm ở Hoa Kỳ. Như tôi thường nói, Phật giáo có một món quà đặc biệt để giúp cho con người lắng đọng tâm thức và học cách sống hạnh phúc hơn. Từ thế kỷ 20, những người Tây Tạng chúng tôi bị bắt buộc phải sống lưu vong... Từ đó, chúng tôi dành quyền ưu tiên chia xẻ món quà Phật giáo cho tất cả bằng hữu khắp các quốc gia, những người đều phải đối diện với vô số khó khăn của đời sống trong thế giới hiện đại đầy náo loạn và lo âu nầy. Có lẽ chỉ có một điều thánh thiện đến với chúng ta từ muôn vàn nỗi bi đát là sự lan tỏa của giáo lý và sự thực hành Phật giáo Tây Tạng.

Hãy tưởng tượng, các vị Lạt-ma Tây Tạng lẽ ra có thể đến các nơi trên thế giới để giảng dạy Phật pháp, họ phải được đi lại bằng thị thực xuất nhập cảnh với giấy thông hành của Tây Tạng. Các tăng sinh ở Tây phương đáng lẽ được tự do đến thăm núi đồi yên tĩnh của Tây Tạng để thưởng thức bầu không khí trong lành, được học tại các tu viện đại học, và thiền quán trong nguồn cảm hứng cô liêu đó. Tôi nói điều nầy không phải chỉ là than phiền về sự thử thách mà chúng tôi đang chịu mà vì tôi muốn lưu ý rằng nhiều người có khuynh hướng chấp nhận một thứ chủ nghĩa định mệnh về lịch sử và vấn đề Tây Tạng. »Tốt thôi, nó phải xảy ra như vậy, nếu không, người dân Tây Tạng sẽ không thể nào thoát ra khỏi sự cô lập với thế giới«.

Nghĩ theo cách như thế có thể khiến cho họ chậm lại trong nỗ lực hành động để cải thiện thực sự tình hình Tây Tạng, để giải quyết vấn đề Tây Tạng, vấn đề con người với sáu triệu người dân Tây Tạng. Bây giờ, đó là một bài thực tập rất ích lợi để quán chiếu lại khổ đau của riêng mọi người, suy gẫm về việc đó như là »quán chiếu lại nghiệp riêng của mỗi người«, và nhờ vậy, họ sẽ đạt được lợi lạc khi tu dưỡng tính kham nhẫn trong hoàn cảnh khó khăn của mình.

Nhưng đó chưa phải là hữu dụng, cũng chưa phải là lòng yêu thương khi chỉ chịu đựng về nỗi khổ của người khác. Thực vậy, ngài Tịch Thiên nói, một vị Bồ-tát  phải hoàn toàn không thể chịu đựng nổi khi thấy người khác bị khổ đau. Xin đưa ra một ví dụ cá nhân. Tôi từng nói rằng chính tôi đã thấy được lợi lạc thực sự từ nỗi khó khăn khi bị mất quê hương và lang thang trong cuộc sống lưu vong – và tôi muốn nói đến điều đó. Trong hoàn cảnh không có một nơi sống ổn định và với sự đau khổ cùng sự phấn đấu đã giúp cho tôi trưởng thành. Khó khăn ở đời có thể dẫn đến sự phát triển tinh thần nhanh hơn và có được sức mạnh tâm linh lớn hơn. Và riêng tôi hoàn toàn hài lòng với tôi rất nhiều. Tôi đã được sự khích lệ khi tiếp nhận một nền giáo lý Phật pháp nghiêm túc và có được cơ hội thực hành giáo lý nầy trong sự rèn luyện khổ nhọc. Tôi không than phiền điều gì cả. Nhưng lời cam kết với mọi người, với sáu triệu dân Tây Tạng đang trông chờ ở sự giúp đỡ của tôi, thì khác hẳn – tôi không thể nào quên tiếng khóc của họ. Làm sao tôi có thể tụng lời kinh, lời phát nguyện của các vị Bồ-tát, nguyện cứu các loài chúng sanh thoát khỏi khổ đau và thoát khỏi các nguyên nhân gây ra khổ đau, và cùng lúc đó, bỏ dở nửa chừng bất kỳ những việc lẽ ra thực sự có thể cứu vãn cho những nỗi đau của mọi người đang ở trong phạm vi trách nhiệm của tôi? Thế nên tôi luôn luôn cố gắng làm nhiều việc mà tôi có thể làm được. Có lẽ ví dụ của tôi sẽ giúp cho những người Phật tử khác muốn duy trì sự tu tập tâm linh và đồng thời cũng muốn làm việc thiện cho toàn xã hội.

Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu chủ trương rằng Phật giáo chủ trương nhất tâm (single-mind) trong mục tiêu nhắm vào niết-bàn, từ bỏ thế gian phàm trần nầy như một trường hợp tuyệt vọng. Với ý niệm nguyên sơ đó, họ cho rằng đạo Phật rất ít tham gia vào quyền công dân, để mặc những vấn đề xã hội đi theo hướng của nó.

Hiện thời, người Phật tử và các tu viện Phật giáo mới thực sự có thể làm nhiều việc thiện hơn để giúp đỡ nhiều người trong những thời điểm khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Nhưng tôi tin rằng từ thời đức Phật tại thế cho đến nay, tất cả mọi hình thái sinh hoạt của Phật giáo đều đã liên tục cố gắng để giúp đỡ con người, dù với tư cách tập thể hay cá nhân, không bao giờ có tình trạng đạo Phật không quan tâm đến thế gian. Tự do và hạnh phúc của chúng sinh luôn luôn là lý tưởng rốt ráo và mục tiêu hành động của người con Phật.

Nền văn minh Tây Tạng là một kết quả to lớn từ sự chuyển hóa xã hội nhờ năng lực của Phật pháp. Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng từ Ấn Độ bởi Hoàng đế Songsten Gampo vào thế kỷ thứ VII.

Trí tuệ từ đạo Phật bắt đầu lan tỏa chầm chậm nhưng đều đặn, giúp cho con người hiền hòa, hạnh phúc và an lạc hơn. Sau vài thế kỷ, người Tây Tạng trở nên yêu thích Phật pháp đến nỗi họ có một nỗ lực vĩ đại biến Phật pháp thành trọng tâm cuộc sống của họ, mặc dù không có sự tán trợ của triều đình. Cuối cùng, sau một ngàn năm, người Tây Tạng đã thành công trong việc thể hiện tư tưởng Phật giáo ngay trong thể chế của quốc gia, lập nên sự hợp nhất giữa tính thiêng liêng và thế tục bởi Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ V[107] vào thế kỷ thứ 17. Tôi tin rằng giáo lý của Đức Phật là điểm then chốt không thể thay thế được để thành tựu sự hạnh phúc cho cá nhân cũng như cho quốc gia. Thế nên toàn bộ hệ thống xã hội chúng ta – văn hóa, nghệ thuật, phong cách sống – đều phải tập trung vào sự phát triển tâm linh con người, tùy thuận theo Phật pháp. Dù chúng ta không bao giờ thành tựu được hoàn toàn, chúng ta cũng đã giữ gìn những giáo lý và truyền thống độc đáo, mà một số đó từ lâu đã biến mất trên các quốc gia Phật giáo khác. Nhưng tôi không muốn nói nhiều về điều nầy, vì tôi biết rất nhiều người trong các bạn đã nhận ra giá trị của Phật giáo Tây Tạng, đã yêu quý cũng như chúng tôi. Tôi đã đi đến rất nhiều nơi vì có rất nhiều người lưu tâm đến tôi, từ lời nói cũng như hành động, sự kính trọng của họ, không chỉ nhắm vào giáo lý của Phật giáo Tây Tạng, mà còn nhờ vào cội nguồn của giáo lý ấy, là văn hóa và văn minh Tây Tạng, vốn tự nó đã hoàn toàn phát xuất từ một nơi nào đó hơn là trong tim đời sống của người dân Tây Tạng. Văn hóa Tây Tạng thuộc về toàn nhân loại, và sự hủy diệt văn hóa Tây Tạng sẽ không chỉ ảnh hưởng đến người Tây Tạng, mà ảnh hưởng đến toàn nhân loại. Do vậy, chúng ta kêu gọi các thành viên của các nền văn hóa khác giúp đỡ cho dân Tây Tạng giữ gìn nền văn hóa độc đáo và di sản phong phú ấy. Những người bạn tôi ở Quốc hội Hoa Kỳ đã hành động một cách mạnh mẽ để biểu hiện sự hỗ trợ chính nghĩa của chúng ta, thúc giục Trung Hoa đình chỉ ý đồ diệt chủng dân Tây Tạng, xóa sổ quốc gia Tây Tạng trong lịch sử, và hủy diệt văn hóa Tây Tạng. Những nghị sĩ, dân biểu nầy sẽ rất cần sự giúp đỡ của các bạn và sự tán trợ của tất cả các Phật tử, các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, các nhà nhân chủng học, và tất cả bạn hữu của nhân dân Tây Tạng, để kết hợp thành một lực đẩy mạnh hơn khiến Trung Hoa phải thay đổi thái độ. Lực đẩy nầy rất thiết yếu và cấp bách để cứu vớt người dân và văn hóa Tây Tạng trước khi quá trễ.

Đối với Trung Hoa cũng vậy, đó là một vấn đề cấp bách, bởi vì nếu những nhà lãnh đạo Trung Hoa không chịu thay đổi đường lối hiện tại, rốt cuộc họ sẽ tự ràng buộc lại mình trong một phương cách tệ hại. Nhưng tôi không muốn vướng mắc vào điều nầy, vì tôi vốn là người lạc quan và vẫn có niềm hy vọng lớn lao rằng tính tích cực sẽ vượt trội, chân lý và thiện tâm sẽ chiến thắng. Các bạn có lẽ ngạc nhiên, nhưng tôi cho rằng loại chủ nghĩa lạc quan nầy rất thực tế. Bởi vì, các bạn thấy đó, mọi người chỉ muốn có hạnh phúc. Nếu chúng ta khảo sát trái tim con người, không phải chỉ để xem nó theo giáo lý nào, mà để phân tích chi tiết những gì thực sự ở trong đó; chúng ta sẽ thấy rằng điều mà mọi người mong ước, điều tạo nên sự hài lòng, đó chính là con tim nồng ấm, con tim chí thiện, con tim từ bi. Những yếu tố nầy ban cho ta sự trầm lắng, an tĩnh và tự tại thực sự, và ban cho ta sức mạnh nội tâm. Mặt khác, sự giận dữ, đố kỵ, tham lam chỉ tạo nên sự khó chịu và luôn luôn bất bình. Ngay cả quốc gia cũng cần kiềm chế và giảm trừ sự gây hấn hiềm khích, đó là cách duy nhất để tránh khỏi khổ đau và mang lại hạnh phúc cho con người. Thế nên rốt ráo, quốc gia chỉ thực hành những chính sách đúng đắn, vì đó là điều quan tâm cao nhất của người dân. Cuối cùng, việc thiện là pháp thực hành cao nhất, là sự hòa giải thực tế nhất. Có lẽ hầu hết các bạn đều biết tầm quan trọng của lòng từ bi. Sự thực hành lòng từ bi là điều cho tôi niềm vui lớn nhất. Bất luận gặp hoàn cảnh nào, bất kỳ đối diện với tình hình bi đát đến cỡ nào, tôi cũng thực tập lòng từ bi, việc nầy đã cho tôi sức mạnh nội tâm và niềm an lạc. Điều nầy cho tôi cảm nhận cuộc sống mình có ích. Thế nên các bạn thấy, từ đó đến nay, tôi được 57 tuổi[108], sắp qua tuổi 58, tôi đã đem hết sức mình để thực hành lòng từ bi, và tôi sẽ tiếp tục thực hành cho đến hơi thở cuối cùng, đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Các bạn thấy, chính tôi là người tự nguyện hiến thân cho lòng từ. Đó là cách tôi thực sự hài lòng. Chúng tôi cần sự tán trợ của công chúng, cần sự biểu hiện thiện chí và hành động với việc làm của chúng tôi, xin ấp ủ thiện chí nầy trong tâm, và bất kỳ lúc nào có điều kiện, xin hãy biểu hiện niềm cảm thông sâu sắc với chính nghĩa của người Tây Tạng.

Là người tu tập Phật pháp, các bạn nên nhận thức được sự thiết yếu của việc giữ gìn Phật giáo Tây Tạng. Vì nơi quốc độ nầy, đất đai lãnh thổ của người Tây Tạng đang bị tàn phá. Chúng ta đã đem hết sức mình để giữ gìn truyền thống Tây Tạng khi phải sống lưu vong bên ngoài Tây Tạng suốt 30 năm, và chúng ta đã gần như đã được thành công. Nhưng cuối cùng, sau thời của chúng ta, có một mối hiểm nguy thực sự khiến thế hệ sau sẽ biến đổi, ngại rằng họ không thể tồn tại trong việc bảo trì, nuôi dưỡng quê hương chúng ta. Thế nên, nhờ vào sự giữ gìn Phật giáo Tây Tạng, được xem như một thực thể hoàn chỉnh của Phật pháp. Tôi mơ ước một đất nước Tây Tạng mới, một vùng đất tự do, một quê hương hòa bình, nơi sáu triệu đồng bào tôi có thể phục hồi lại đời sống tâm linh cùng lúc trở nên hòa hợp với từng phương diện tốt đẹp nhất của thế giới. Tôi thấy Tây Tạng là nơi mà tất cả mọi người – không chỉ là đồng bào láng giềng ở Đông Phương – có thể viếng thăm và thưởng thức không khí trong lành và núi đồi hùng vĩ, có thể tìm thấy niềm phấn khích trong phong thái an tĩnh và giàu chất tâm linh, và có thể họ sẽ học được cách nhận thức thế giới của riêng họ tốt hơn bằng cách phóng xả dần trong khi ngồi thiền trên vùng cao nguyên quê hương chúng tôi.

Với sự tán trợ của các bạn. Chúng ta sẽ trở về quê cũ. Bây giờ là lúc các bạn thực hành. Tri ân các bạn rất nhiều.

 

SỰ TIẾP CẬN CỦA CON NGƯỜI VÀO HÒA BÌNH THẾ GIỚI

 

Mỗi sáng ta thức dậy, nghe tin tức từ radio hay đọc báo, chúng ta đối diện với những tin tức xấu như nhau: bạo động, tù tội, chiến tranh, thiên tai. Tôi không dám mơ tưởng dù chỉ một ngày không nghe tường thuật những điều khủng khiếp đang xảy ra khắp nơi.

Ngay trong thời hiện đại nầy, rõ ràng đời sống quý báu của con người cũng không được bình an, không có thế hệ tiền bối nào đã hứng chịu như ngày hôm nay. Ý thức sợ hãi thường xuyên và căng thẳng sẽ tạo nên bất kỳ vấn đề nghiêm trọng về cảm xúc và lòng trắc ẩn của con người trong sự phát triển của thế giới hiện đại nầy. Thật là mỉa mai khi càng có nhiều vấn đề nghiêm túc phát sinh thì xã hội công nghiệp càng tiến triển. Khoa học và kỹ thuật đã tạo ra nhiều điều kỳ diệu trên nhiều lãnh vực, nhưng vấn đề cơ bản của con người vẫn còn đó.

Đã có một lối học mới, nhưng sự giáo dục phổ quát dường như không làm tăng tưởng tính thiện, mà thay vì chỉ làm tăng thêm tính nôn nóng và không thỏa mãn. Không nghi ngờ gì về sự gia tăng tiến bộ vật chất và kỹ thuật, nhưng không rõ vì sao điều nầy không có hiệu quả, vì chúng ta chưa thành công trong việc làm phát sinh hạnh phúc và an lạc hoặc là vượt thoát được khổ đau.

Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng phải có điều gì sai lầm nghiêm trọng trong tiến trình phát triển, nếu chúng ta không rà soát lại kịp thời, chắc sẽ có hậu quả thảm hại cho tương lai của loài người. Tôi không phải là người hoàn toàn chống lại khoa học kỹ thuật – nó đã góp phần rất lớn vào toàn bộ kinh nghiệm của loài người, đối với lợi ích vật chất và thịnh vượng, và đối với sự hiểu biết rộng lớn về thế giới ta đang sống. Nhưng nếu chúng ta dành sự chú trọng vào khoa học và kỹ thuật, là chúng ta đang có nguy cơ đánh mất cơ hội tiếp xúc với những khía cạnh tri thức và sự hiểu biết của con người làm phát sinh tính chân thực và lòng vị tha.

Khoa học và kỹ thuật, dù có khả năng tạo ra vô số tiện nghi vật chất cũng không thể thay thế giá trị tinh thần truyền thống và giá trị nhân văn đã tạo nên dạng thức đồ sộ của nền văn minh nhân loại trong toàn thể các hình thái quốc gia như ta đã được biết ngày hôm nay.

Không ai chối từ được tiện nghi vật chất của khoa học kỹ thuật mới mẻ, nhưng vấn đề cơ bản của con người vẫn còn, chúng ta vẫn phải đối diện nỗi khổ, sự sợ hãi, sự căng thẳng giống nhau, nếu không nói là nhiều hơn. Do đó, chỉ có một điều hợp lý là cố gắng thiết lập sự quân bình giữa sự phát triển vật chất và mặt khác, sự phát triển tâm linh, và giá trị nhân bản. Để làm được cuộc điều chỉnh vĩ đại nầy, chúng ta cần phải làm sống lại giá trị nhân văn của chúng ta.

Tôi chắc chắn nhiều người sẽ chia xẻ sự quan tâm về sự khủng hoảng đạo đức rộng lớn trong thế giới hiện nay, và sẽ tham gia lời kêu gọi của tôi đến các nhà hoạt động nhân đạo và giới tăng lữ tôn giáo, người chia xẻ sự quan tâm làm cho xã hội chúng ta biết yêu thương nhau nhiều hơn, thể hiện chính trực và công bằng nhiều hơn.

Tôi không phát biểu như là một tu sĩ Phật giáo, hay như là người Tây Tạng, tôi cũng chẳng phát biểu như là một chuyên viên chính trị quốc tế (dù tôi không né tránh tham gia các đề tài nầy). Đúng hơn, đơn giản là tôi phát biểu như là một con người, một người gìn giữ giá trị nhân văn, đó là nền tảng không chỉ của Phật giáo Đại thừa mà còn của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Từ quan điểm nầy, tôi sẽ chia xẻ với các bạn viễn cảnh của cá nhân tôi, đó là:

1. Chủ nghĩa nhân đạo trên toàn vũ trụ là yếu tính để hóa giải vấn đề toàn cầu.

2. Từ bi là cột trụ của hòa bình thế giới.

3. Tất cả các tôn giáo trên thế giới đều sẵn sàng cho hòa bình thế giới theo phương thức nầy, tất cả đều là tinh thần nhân đạo dù dưới bất kỳ ý thức hệ nào.

4. Mỗi cá nhân đều có một trách nhiệm định hình sự mở màn cho việc đáp ứng nhu cầu con người.

 


HÒA GIẢI VẤN ĐỀ CON NGƯỜI THÔNG QUA SỰ CHUYỂN HÓA THÁI ĐỘ CỦA RIÊNG TỪNG NGƯỜI

 

Trong những vấn đề chúng ta đối diện ngày hôm nay, một số là những thảm họa thiên nhiên, và chúng ta phải chấp nhận và đối diện với thái độ trầm tĩnh. Mặt khác, tuy nhiên, một số vấn đề lại do chúng ta gây ra, tạo nên bởi sự hiểu lầm, và có thể là chính xác. Vấn đề như thế sinh ra do mâu thuẫn ý thức hệ, chính trị và tôn giáo, khi con người chống trái lẫn nhau vì những mục đích ty tiện, bỏ quên tầm nhìn về nền tảng của lòng nhân từ ràng buộc chúng ta với nhau như một gia đình nhân loại. Chúng ta phải nhớ rằng các hệ thống tôn giáo, các ý thức hệ và chính trị khác nhau trên thế giới có ý nghĩa là giúp cho loài người được hạnh phúc. Chúng ta không được đánh mất cái nhìn về mục tiêu nền tảng nầy và đừng bao giờ đặt phương tiện lên trên cứu cánh, và quyền tối cao của nhân tính vượt lên trên mọi vấn đề về ý thức hệ, và luôn luôn phải được duy trì.

Viễn cảnh về một mối nguy đơn giản nhưng lớn nhất đang đối diện với loài người – thực vậy, với tất cả sinh thể trên hành tinh chúng ta – là sự đe dọa về sự hủy hoại từ vũ khí hạt nhân. Không cần phải nói chi tiết về mối nguy hiểm nầy, nhưng tôi muốn kêu gọi các nhà lãnh đạo các cường quốc hạt nhân đang thực sự nắm giữ tương lai của thế giới trong tay, đến các nhà khoa học và kỹ thuật đang tiếp tục tạo ra những vũ khí đáng sợ cho sự hủy diệt, và đến toàn thể mọi người có một vị thế ảnh hưởng đến những người lãnh đạo của họ. Tôi kêu gọi họ hãy sử dụng phẩm tính trong sáng thánh thiện của mình và bắt tay vào việc tháo gỡ và phá hủy tất cả vũ khí hạt nhân. Chúng ta biết rằng trong biến cố chiến tranh hạt nhân, sẽ không có người chiến thắng vì sẽ không có ai sống còn. Không sợ hãi khi suy gẫm đến sự phá hoại phi nhân tính và vô tâm như thế hay sao? Và phải chăng không hợp lý khi chúng ta phải xoay chuyển nguyên nhân và có cả thời gian lẫn phương tiện để làm như thế? Thường chúng ta không thể vượt qua những vấn đề của chúng ta vì hoặc là chúng ta không biết được nguyên nhân hoặc là nếu chúng ta không hiểu được vấn đề, thì không có phương tiện để chuyển hóa nó. Đây không phải là trường hợp đối với đe dọa của hạt nhân.

Dù những vấn đề ấy thuộc về sinh thể có mối liên hệ lớn nhất như loài người, hay với loài có mối liên hệ đơn giản hơn như loài vật, thì tất cả các loài chủ yếu đều mong cầu hòa bình, tiện nghi và sự bảo đảm. Đời sống đều đắt giá đối với loài động vật vô tri cũng như đối với loài người, ngay với loài côn trùng nhỏ nhất cũng tranh đấu chống lại sự nguy hiểm đe dọa đời sống của chúng. Ngay cả mỗi người chúng ta cũng muốn sống và không muốn chết, tất cả sinh vật khác trong vũ trụ cũng như thế. Song le, lực tác động đến từng loài là một vấn đề khác.

Nói chung, có hai loại hạnh phúc và đau khổ: tinh thần và vật chất. Trong hai loại, tôi tin rằng đau khổ tinh thần và hạnh phúc tinh thần là dữ dội nhất. Bởi vậy, tôi nhấn mạnh đến sự đào luyện tâm linh để chịu đựng khổ đau và kéo dài được trạng thái hạnh phúc. Tuy nhiên, tôi lại có một ý niệm cụ thể và phổ quát hơn về hạnh phúc: một hợp thể của sự bình an bên trong tâm thức, một nền kinh tế phát triển, và hơn tất cả, là thế giới hòa bình. Để đạt được mục tiêu như thế, tôi thấy rất cần thiết phải đẩy mạnh ý thức về trách nhiệm toàn cầu, và mối quan tâm sâu sắc về mọi vấn đề lâu nay đã bị thờ ơ như đức tin, chủng tộc, tính dục, hoặc dân tộc.

Tiền đề đằng sau ý tưởng trách nhiệm toàn cầu là một yếu tố đơn giản, nói chung là ước muốn của tất cả mọi người khác đều giống như ước nguyện của tôi. Mọi loài đều muốn hạnh phúc chứ không muốn đau khổ. Nếu chúng ta là loài người thông minh, không chấp nhận sự kiện nầy thì sẽ càng có nhiều khổ đau trên hành tinh nầy. Nếu chúng ta thừa nhận tư tưởng bản ngã trung tâm để tiếp cận cuộc sống và thường xuyên nỗ lực sử dụng những loài khác làm lợi ích riêng tư cho mình, chúng ta có thể đạt được lợi ích nhất thời, nhưng lâu dài chúng ta sẽ không thành công ngay cả trong việc đạt được hạnh phúc cá nhân. Còn vấn đề hòa bình thế giới sẽ hoàn toàn vượt ra ngoài vấn đề.

Trong những yêu cầu để có hạnh phúc, con người đã dùng nhiều phương pháp khác nhau, phần nhiều thường bị ghê tởm và xa lánh. Xử sự bằng những phương pháp hoàn toàn không mang tính người, họ chống lại khổ đau bằng cách thân thiện với con người và các loài khác chỉ vì lợi ích của riêng cá nhân họ. Cuối cùng, hành vi thiển cận ấy đem đến khổ đau cho chính họ cũng như cho mọi người khác. Để được sinh ra làm người, tự nó là một sự kiện hy hữu, và có thể vận dụng dịp may nầy một cách có hiệu quả và khéo léo là người khôn ngoan. Chúng ta phải có tầm nhìn riêng về tiến trình sự sống của vũ trụ, để hạnh phúc, vinh quang của cá nhân hay tập thể: không phải tìm kiếm ở sự trả giá nơi người khác.

Tất cả đều trông chờ ở một cuộc tiếp cận mới cho vấn đề toàn cầu. Thế giới càng trở nên nhỏ bé hơn, và càng trở nên tùy thuộc vào nhau hơn – như là một kết quả nhanh chóng của kỹ nghệ tiến bộ và mậu dịch quốc tế cũng như mối quan hệ xuyên quốc gia. Ngày nay chúng ta tùy thuộc rất nhiều đến những người khác. Thời cổ đại, các vấn đề hầu như chỉ trong phạm vi gia đình, nó liên kết chặt chẽ một cách tự nhiên trong phạm vi gia đình, nhưng tình thế ngày nay chúng ta tùy thuộc vào nhau rất mật thiết, liên quan với nhau rất chặt chẽ, đến nỗi nếu không có ý thức về trách nhiệm toàn cầu, nếu không cảm thấy tình huynh đệ trong toàn thế giới, không có sự hiểu biết và niềm tin rằng chúng ta là một phần của gia đình nhân loại rộng lớn, thì không ta không thể nào hy vọng vượt qua hiểm nạn để có được sự sinh tồn – để phát triển hạnh phúc và an lạc.

Về lâu dài, vấn đề của một quốc gia không thể đơn độc giải quyết ổn thỏa trong lâu dài được, vì tùy thuộc quá nhiều vào sự quan tâm và thái độ hợp tác của các quốc gia khác. Tính chất nhân văn phổ quát tiếp cận vào vấn đề thế giới dường như chỉ là nền tảng của vấn đề hòa bình thế giới. Điều ấy có nghĩa gì? Chúng ta khởi đầu từ nhận thức đã được đề cập trước đây rằng mọi chúng sinh đều mong muốn có hạnh phúc và không ai muốn khổ đau. Thế nên sẽ trở nên sai lầm về đạo đức và thực dụng thiếu khôn ngoan khi chỉ truy cầu hạnh phúc cho riêng mình, dĩ nhiên với ý nguyện là cho mọi người sống chung quanh ta như một thành viên của cùng một gia đình nhân loại. Phương cách khôn ngoan hơn là nghĩ đến người khác khi theo đuổi hạnh phúc riêng cho mình. Việc nầy sẽ dẫn đến điều tôi gọi là »lợi ích cá nhân khôn ngoan«, hy vọng tự nó sẽ được chuyển thành »lợi ích của toàn thể« hoặc tốt hơn nữa là »các bên cùng có lợi«.

Mặc dù sự gia tăng tính tương duyên trong số các quốc gia sẽ đưa đến hy vọng làm nảy sinh sự hợp tác thông cảm nhiều hơn, khó mà đạt được sự hợp tác tinh thần chân thực khi mà con người còn thờ ơ với sự xúc cảm và hạnh phúc của người khác. Khi con người bị kích động bởi tham lam và đố kỵ, thì họ rất khó sống hài hòa. Một lối tiếp cận tinh thần có thể không hóa giải được toàn bộ vấn đề chính trị khi đã được tạo nên bởi lối tiếp cận của lợi ích cá nhân, nhưng lâu dài, nó sẽ vượt qua được các nền tảng của vấn đề mà ta đang đối diện ngày nay.

Mặt khác, nếu loài người tiếp tục tiếp cận các vấn đề chỉ xét đến tiện nghi hiện thời, thì thế hệ tương lai sẽ phải đối diện với khó khăn khủng khiếp. Dân số toàn cầu đang gia tăng, tài nguyên của chúng ta cạn kiệt nhanh chóng. Hãy nhìn rừng cây chẳng hạn. Không ai có thể biết chính xác vô số ảnh hưởng nghiêm trọng của việc khai thác rừng đối với khí hậu, đất đai và sinh thái toàn cầu như là một thể thống nhất. Chúng ta đang phải đối diện với các vấn đề do con người chỉ chú ý đến họ trong một khoảng thời gian ngắn, chỉ để ý đến lợi ích cá nhân, không lưu tâm đến toàn nhân loại. Họ không chiêm nghiệm về trái đất và ảnh hưởng lâu dài vào đời sống chung như một toàn thể. Nếu chúng ta là người của thế hệ hiện tại, không suy gẫm những chi tiết nầy, thì thế hệ tương lai không thể đối phó nổi với các vấn đề ấy.

 

LÒNG TỪ BI NHƯ LÀ CỘT TRỤ  CỦA

HÒA BÌNH THẾ GIỚI

 

Theo tâm lý học Phật giáo, hầu hết những rắc rối của chúng ta đều do sự ham muốn mãnh liệt và chấp trước vào các pháp mà ta hiểu lầm các pháp ấy là những thực thể tồn tại lâu dài. Sự theo đuổi các khách thể là do lòng tham và sự chấp trước của ta liên quan với việc sử dụng sự gây hấn và tranh đua như là một công cụ hiệu nghiệm. Tiến trình tâm linh như thế dễ dàng chuyển thành hành động của con người, nuôi dưỡng tính hiếu chiến như một hậu quả tất yếu. Những tiến trình như vậy đã được tiếp diễn trong tâm thức nhân loại từ lúc nào không biết được, nhưng sự biểu hiện đã trở thành rất có hiệu quả dưới những điều kiện tân tiến. Chúng ta có thể làm gì để kiểm soát và điều chỉnh những »độc tố«: vô minh, tham lam và bạo động? Vì chính những độc tố nầy là hậu trường của hầu hết mọi phiền nhiễu trên thế giới.

Là một đặc điểm phát sinh từ ra trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, tôi thấy rằng lòng từ bi là chất liệu đạo đức dệt nên hòa bình thế giới. Trước tiên, tôi định nghĩa về ý nghĩa của lòng từ bi. Khi các bạn thương xót hay động lòng trắc ẩn đối với một người rất nghèo, nghĩa là các bạn đang biểu hiện sự thông cảm vì người ấy nghèo khổ, do lòng thương tâm của các bạn xuất phát từ lòng vị tha.

Mặt khác, tình yêu chồng vợ, con cái, hay bạn bè thân thiết thường xuất phát từ lòng quyến luyến. Khi lòng quyến luyến của bạn thay đổi, thì tình thương yêu của bạn cũng thay đổi, hay có thể biến mất luôn. Đây không phải là tình thương chân thực. Tình yêu chân thực là không xuất phát từ sự quyến luyến, mà xuất phát từ lòng vị tha. Trong trường hợp nầy, lòng từ bi của bạn sẽ tồn tại như sự đáp ứng cho con người bị khổ đau cho đến khi loài người còn tiếp tục đau khổ.

Dạng lòng trắc ẩn nầy là điều chúng ta phải cố gắng gieo trồng trong chính mình, và chúng ta phải phát triển tấm lòng ấy từ tầm mức hữu hạn đến vô hạn. Lòng từ bi không phân biệt, ngẫu nhiên và không giới hạn đối với chúng sinh dĩ nhiên không phải là tình yêu thông thường mà con người ban phát cho gia đình, bạn thân của họ, đã bị giảm giá trị vì vô minh, tham muốn và chấp trước. Loại tình yêu mà ta tán đồng là loại tình thương rộng lớn mà các bạn ban phát ngay cả cho người mà đã hãm hại các bạn: là kẻ thù.

Tính hợp lý của lòng từ bi là mọi người chúng ta đều muốn tránh khổ đau và có được hạnh phúc. Điều nầy, trở lại, được xuất phát trên cảm giác có hiệu lực về »tôi«, nó định hình sự mong muốn phổ quát về hạnh phúc. Thực vậy, tất cả mọi người đều được sinh ra với một mong muốn giống nhau, tất cả lẽ ra đều có quyền bình đẳng để đạt được điều mong ước đó. Nếu tôi so sánh mình với người khác, đông vô chừng, tôi thấy những người kia quan trọng hơn vì tôi chỉ là một trong khi những người kia là nhiều. Hơn thế nữa, truyền thống Phật giáo Tây Tạng dạy chúng ta xem tất cả các loài hữu tình như là người mẹ thân yêu của mình và mình phải biểu hiện lòng tri ân bằng cách yêu thương tất cả mọi loài. Bởi vì theo giáo lý Phật pháp, chúng ta đã sinh ra và tái sinh trong vô số kiếp, và điều ấy được xem là mỗi người đã là cha hoặc mẹ của chúng ta trong một đời hay nhiều đời khác. Trong tinh thần đó, tất cả loài hữu tình trong thế gian đều chia xẻ với nhau cùng một mối quan hệ gia đình.

Dù con người có niềm tin vào tôn giáo hay không, chẳng có ai mà không cảm thụ được lòng từ bi. Ngay lúc chào đời, chúng ta được chăm sóc bởi lòng từ bi của cha mẹ mình. Sau đó trong đời sống, khi đối diện với đau khổ của bệnh tật và tuổi già, chúng ta lại nương tựa vào lòng từ bi của những người khác. Nếu lúc sinh ra và kết thúc cuộc đời mình, chúng ta tùy thuộc vào lòng từ bi của người khác, tại sao trong thời trung niên chúng ta lại không sống với mọi người bằng lòng từ bi?

Sự sinh khởi của lòng từ bi (cảm giác thân mật dành cho mọi người) không phải là niềm tin tôn giáo mà chúng ta thường tham dự trong sự thực hành đời sống tôn giáo quy ước hằng ngày. Lòng từ bi ấy không phải chỉ dành riêng cho những người tin vào tôn giáo, mà cho mọi người không kể chủng tộc, tôn giáo, khuynh hướng chính trị. Lòng từ bi ấy dành cho mọi người tự xem mình, hơn tất cả, là thành viên của gia đình nhân loại và những người nhìn thấy mọi điều tới một toàn cảnh rộng lớn và lâu dài hơn. Đây là một cảm nhận mạnh mẽ mà chúng ta nên phát huy và áp dụng, thay vì chúng ta thường thờ ơ, đặc biệt là trong thời gian đầu đời khi chúng ta trải qua ý thức sai lầm về sự an ninh cá nhân.

Khi chúng ta có được nhận thức về viễn cảnh lâu dài hơn, thực tế là tất cả mọi loài đều muốn có được hạnh phúc và tránh mọi khổ đau, giữ trong tâm quan hệ bình thường với vô số người khác, chúng ta có thể kết luận rằng thật đáng quý khi chia xẻ mọi thứ sở hữu của mình cho người khác. Khi các bạn rèn luyện quan niệm nầy, một ý thức chân thực về lòng từ – ý thức chân thực về tình thương yêu và sự kính trọng đối với người khác – trở thành có thực. Hạnh phúc cá nhân đình chỉ để tạo thành ý thức nỗ lực tìm kiếm; nó trở thành một năng lực tự động và siêu việt bởi vì xuất phát từ toàn thể quá trình thương yêu và giúp đỡ cho người khác.

Một kết quả khác của sự phát triển tâm linh lợi lạc nhất trong đời sống ngày nay là nó đã đem lại một tâm thức an tĩnh ngay trong giây phút hiện tại. Cuộc sống chúng ta thường xuyên bị phóng vọt ra ngoài, mang theo rất nhiều rắc rối. Khi chúng ta đối diện với tâm tĩnh lặng và trong sáng, mọi vấn đề có thể được hóa giải một cách trọn vẹn. Trong khi, thay vì vậy, chúng ta đánh mất sự tự chủ trong tâm khi ta nóng nảy, ích kỷ, đố kỵ, hờn giận, chúng ta đánh mất ý thức chân chính. Tâm ta bị mù lòa và trong phút chốc dại dột nầy, mọi việc đều có thể xảy ra, gồm cả chiến tranh. Do vậy, sự thực tập lòng từ bi và trí tuệ rất có ích cho tất cả mọi giới, đặc biệt là cho những người có trách nhiệm điều khiển quốc gia, trong tay họ nắm toàn bộ quyền hạn và cơ hội tạo nên cấu trúc một thế giới hòa bình.

 

MỘT TÔN GIÁO PHỔ QUÁT CHO NỀN

HÒA BÌNH NHÂN LOẠI

 

Những đạo lý được thảo luận đến vẫn có được sự hài hòa với giáo lý đạo đức của tất cả các tôn giáo trên thế giới. Tôi xác nhận rằng mỗi tôn giáo lớn trên thế giới: đạo Phật, Cơ-đốc giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Kỳ Na giáo, Do Thái giáo, đạo Xích[109], đạo Lão, đạo Zoroastrianism[110], đều có quan niệm về tình thương giống nhau, có cùng mục tiêu đem sự lợi lạc đến cho loài người qua phương cách thực hành tâm linh, và cùng một hiệu quả khiến cho các tín đồ của họ trở nên con người hoàn thiện. Tất cả các tôn giáo đều dạy những giới điều đạo đức để hoàn thiện chức năng của tâm ý, thân thể và lời nói. Tất cả các giới luật đều dạy chúng ta không nên nói dối hoặc trộm cắp hoặc hủy hoại sinh mạng của người khác, và còn nữa. Mục đích chung của tất cả giới điều đạo đức được đưa ra bởi những bậc đạo sư vĩ đại của nhân loại chính là tính vô ngã. Các vị đại đạo sư muốn dẫn dắt môn đệ của mình tránh khỏi con đường tạo ra những chủng tử xấu gây nên bởi vô minh và giới thiệu cho các môn đệ con đường nhắm đến toàn thiện.

Tất cả các tôn giáo đều đồng ý đến tính cần thiết của việc điều chỉnh tâm thức lan man là nơi trú ẩn của bản ngã và những cội rễ khác của phiền não, và mỗi giáo lý đều chỉ dạy một con đường dẫn đến cảnh giới tâm linh đầy bình an, ổn định, đức hạnh và trí tuệ. Trong ý nghĩa nầy, tôi tin rằng các tôn giáo đều có một thông điệp cơ bản giống nhau. Những giáo lý khác nhau có thể được quy về cho sự khác nhau của các thời đại và các hoàn cảnh sống cũng như sự ảnh hưởng của các nền văn hóa. Thực vậy, những cuộc tranh luận có tính chất học giả sẽ không cùng tận khi ta chỉ thuần túy khảo sát tôn giáo trên khía cạnh siêu hình. Tuy nhiên, sẽ được lợi lạc nhiều hơn khi cố gắng ứng dụng trong đời sống hàng ngày những giới điều đạo đức để đạt được sự toàn thiện được các tôn giáo hướng dẫn hơn là bàn cãi về những sự khác biệt khi tiếp cận.

Có nhiều tôn giáo khác nhau mang đến lợi ích và hạnh phúc cho nhân loại bằng nhiều phương pháp giống nhau như có nhiều cách chữa trị đặc biệt cho nhiều loại bệnh tật. Bởi vì, các tôn giáo đều hiến mình theo phương thức của riêng mình để cứu giúp cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc. Và, mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những nguyên nhân về sự ưa thích việc biện minh, lý giải cho một chân lý của tôn giáo nào đó, thì vẫn có nhiều nguyên nhân lớn hơn về sự hợp quần, phát sinh từ lòng người. Mỗi tôn giáo hoạt động theo phương pháp riêng của mình để giảm trừ khổ đau con người và đóng góp vào văn minh của nhân loại. Trái lại, không phải là mục đích của tôn giáo. Chẳng hạn, tôi không cho rằng nên bắt buộc người khác cải đạo sang Phật giáo, hay là gieo thêm những nhân duyên với Phật pháp. Đúng hơn, tôi thường suy nghĩ làm sao để mình được là một con người của đạo Phật nhân bản, có thể góp phần vào hạnh phúc của con người.

Trong khi chỉ ra những điểm tương đồng căn bản giữa các tôn giáo trên thế giới, tôi không biện hộ cho một tôn giáo đặc biệt nào và hạ thấp các tôn giáo khác, tôi cũng không tìm kiếm một »tôn giáo thế giới« mới. Tất cả các tôn giáo khác nhau trên thế giới đã đủ để làm giàu cho kinh nghiệm của con người và đủ cho văn minh nhân loại rồi. Tâm thức con người chúng ta, vốn có nhiều khả năng và thiên hướng khác nhau, nên cần có những phương cách để tiếp cận với sự an bình và hạnh phúc. Cũng giống như thức ăn, một số người nhận thấy Cơ-đốc giáo  hấp dẫn hơn, một số khác thích Phật giáo hơn vì không có một đấng sáng tạo thế giới trong giáo lý ấy và mọi hiện hữu đều tùy thuộc vào hành vi của chính mình. Chúng ta có thể mở ra nhiều cuộc thảo luận về các tôn giáo khác như thế. Vậy nên mục đích thì đã rõ: nhân loại cần tất cả các tôn giáo để thích nghi với phương thức sống, thích nghi với nhu cầu tâm linh đa dạng và thừa kế truyền thống dân tộc của cá nhân con người.

Từ viễn cảnh nầy, tôi tán đồng những nỗ lực đang được thể hiện từ khắp mọi nơi trên thế giới để góp phần cho sự hiểu biết tốt hơn về các tôn giáo. Nhu cầu cho việc nầy đặc biệt cấp bách hiện nay. Nếu tất cả các tôn giáo tạo nên được sự cải thiện những mối quan tâm chính của nhân loại, thì họ sẽ cùng hành động hòa hợp với nhau cho hòa bình thế giới. Sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau sẽ sinh khởi sự cần thiết nhất quán cho các tôn giáo cùng hoạt động với nhau. Tuy nhiên, mặc dù đây thực sự là một bước quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng. Sẽ không có một giải pháp nào nhanh chóng và dễ dàng cả. Chúng ta không thể giấu diếm được những xung khắc của các học thuyết đang tồn tại từ những đức tin khác nhau. Cũng không hy vọng có thể thay thế những tôn giáo đang hiện hữu bởi một đức tin mới phổ biến hơn. Mọi tôn giáo đều có những sự đóng góp riêng biệt để thực thi, và mỗi tôn giáo đều có riêng phương pháp để thích nghi với từng căn cơ của các dạng người như họ nhận thức về đời sống nầy. Thế giới cần tất cả các tôn giáo ấy.

Có hai vấn đề chủ yếu đòi hỏi các nhà hoạt động tôn giáo quan tâm đến hòa bình thế giới. Trước hết, chúng ta phải phát huy hơn nữa sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau để tạo nên mức độ khả thi cho sự hợp nhất các tôn giáo. Điều nầy có thể thành tựu từng phần bởi sự tôn trọng các đức tin của mỗi bên và bằng cách nhấn mạnh mối quan tâm chung nhất về niềm an vui của con người.

Thứ hai, chúng ta phải lập ra thỏa hiệp chung có thể tác dụng trên giá trị nền tảng về tâm linh sẽ làm rung động lòng người và tăng trưởng hạnh phúc của toàn nhân loại. Điều nầy có nghĩa là chúng ta phải chú trọng vào mẫu số chung của các tôn giáo trên thế giới – lý tưởng nhân đạo. Hai bước nầy sẽ khuyến khích chúng ta hành động trên cả hai phương diện, cá nhân và cộng đồng để tạo ra các yếu tố tâm linh thiết yếu cho hòa bình thế giới.

Chúng ta là hành giả của các đức tin khác nhau. Có thể cũng hợp tác với nhau cho hòa bình thế giới. Khi chúng ta thấy rõ các tôn giáo khác nhau chính là những chất liệu thiết yếu để phát triển thành một tấm lòng chí thiện – yêu thương và tôn trọng mọi loài, cùng ý thức chân chính về đời sống cộng đồng. Điều quan trọng nhất là nhìn về các dự định triển vọng của các tôn giáo, không chỉ ở chi tiết về lý thuyết và chất siêu hình, chỉ có thể dẫn dắt đến chủ nghĩa tri thức. Tôi tin rằng tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới có thể tham gia vào hòa bình thế giới và hợp tác cùng nhau cho lợi ích nhân loại nếu chúng ta gạt qua một bên những dị biệt siêu hình vi tế, vốn thực sự là những vấn đề nội tại của mỗi tôn giáo.

Mặc dù tiến trình thế tục hóa đã phát sinh bởi sự hiện đại hóa trên bình diện thế giới, và mặc dù những nỗ lực mang tính hệ thống hóa ở một phần thế giới nhằm phá hủy giá trị tâm linh, nhưng số đông loài người vẫn tiếp tục tin vào một tôn giáo nầy hoặc tôn giáo khác. Niềm tin bất diệt vào tôn giáo, những biến cố dù trải qua dưới hệ thống chính trị vô thần, biểu lộ rõ ràng tiềm năng của tôn giáo như nó vốn vậy. Năng lực tâm linh nầy và sức mạnh bên ngoài có thể sẵn sàng để phát khởi những yếu tố tâm linh cần thiết cho hòa bình thế giới. Những nhà lãnh đạo tôn giáo và các lãnh đạo các phong trào nhân đạo trên khắp thế giới phải nên có một vai trò đặc biệt để điều hành trên phương diện nầy. Dù chúng ta sẽ thành tựu được hòa bình thế giới hay không, chúng ta không thể lựa chọn mà chỉ hành động nhắm đến mục tiêu nầy. Nếu tâm ta bị chế ngự bởi nóng giận, chúng ta sẽ đánh mất phần ưu việt nhất của tri thức con người – trí tuệ, là khả năng quyết định giữa chính và tà. Nóng giận là một vấn đề nghiêm trọng nhất thách thức thế giới ngày nay.

 

NĂNG LỰC CÁ NHÂN ĐỊNH HÌNH CHO SỰ KHỞI ĐẦU

 

Nóng giận đóng một vai trò không nhỏ trong các cuộc xung đột hiện thời như đang xảy ra ở Trung Đông, Đông Nam Á, vấn đề Nam Bắc... Những cuộc xung đột nầy phát sinh từ sự thất bại trong việc không hiểu biết về quan điểm nhân đạo của nhau. Giải quyết vấn đề không phải là sử dụng và phát huy quân đội hùng mạnh, hoặc các loại vũ khí hiện đại. Cũng không phải thuần túy vấn đề chính trị hay thuần túy kỹ thuật. Cơ bản vấn đề là tinh thần, trong ý nghĩa những gì cần thiết là sự hiểu biết nhạy bén về tình trạng chung của con người. Thù nghịch và chống đối không thể mang lại hạnh phúc cho mọi người, ngay cả người thắng trận. Bạo động luôn luôn tạo ra khổ đau, chủ yếu là tác động ngược lại. Vậy nên, đó là lúc cho các nhà lãnh đạo thế giới học cách vượt qua sự kỳ thị chủng tộc, văn hóa và ý thức hệ để có cái nhìn xuyên suốt bằng con mắt khác để thấy tình trạng chung của con người hiện nay. Làm được như thế, sẽ có lợi lạc rất nhiều cho từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới.

Sự căng thẳng của thế giới hiện nay phần lớn dường như xuất phát từ mâu thuẫn giữa »khối phương Đông« và »khối phương Tây« tiếp diễn từ thế chiến thứ 2. Cả hai khối nầy có khuynh hướng mô tả và nhìn khối kia bằng một nhãn quan hoàn toàn bất lợi. Cuộc đấu tranh liên tục, bất hợp lý nầy do vì thiếu thông cảm và thiếu tôn trọng lẫn nhau như là một người bạn. Những người thuộc khối phương Đông nên từ bỏ sự thù nghịch với khối phương Tây vì khối phương Tây cũng bao gồm những người đàn ông, phụ nữ, trẻ em. Tương tự, khối phương Tây nên từ bỏ sự thù nghịch lẫn nhau giữa hai khối như thế, các nhà lãnh đạo của hai bên phải đóng một vai trò rất lớn. Nhưng trước nhất, các nhà lãnh đạo phải nhận thức được tính nhân đạo trong người dân nước mình và người dân nước khác. Không có được nhận thức cơ bản nầy, thì rất hiếm có được hiệu quả trong việc giảm trừ sự thù nghịch ở các tổ chức.

Nếu như, chẳng hạn, lãnh đạo của Hoa Kỳ và lãnh đạo của Liên bang Xô-viết tình cờ gặp nhau giữa một hoang đảo, tôi chắc là họ sẽ đáp ứng những vấn đề tự phát của nhau như là những người bạn thân của loài người. Nhưng một bức tường của sự nghi ngờ và hiểu lầm lẫn nhau ngăn cách ngay giây phút họ tự đồng nhất mình với danh hiệu »Tổng Thống Hoa Kỳ« và »Tổng Bí thư Liên bang Xô-viết«. Nhiều người quen tiếp xúc với hình thức không cần lễ nghi trong các cuộc gặp gỡ rộng rãi, không cần hẹn trước, như thế sẽ phát huy được sự hiểu biết lẫn nhau; họ sẽ học được cách liên hệ với những người khác và rồi có thể cố gắng hòa giải vấn đề thế giới căn cứ trên sự hiểu biết nầy. Khi không có hai đảng phái, đặc biệt là những bên có một lịch sử đối kháng nhau, thì họ có thể đàm phán thành công trong bầu không khí nghi ngờ và thù nghịch.

Tôi đề nghị các nhà lãnh đạo thế giới nên gặp nhau một năm một lần ở một nơi có phong cảnh đẹp mà không có sự bận rộn của công việc, chỉ để tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau về giữa con người. Thế rồi, sau đó họ có thể gặp nhau để thảo luận về những vấn đề toàn cầu. Tôi chắc sẽ có nhiều người cùng chia xẻ ước muốn của tôi về các lãnh tụ thế giới nên gặp nhau ở bàn hội nghị trong bầu không khí kính trọng và hiểu biết lẫn nhau về tính cách con người của nhau.

Để phát triển rộng lớn sự liên lạc mật thiết giữa người với người trên thế giới, tôi mong muốn thấy sự khích lệ lớn hơn của ngành du lịch thế giới. Cũng vậy, phương tiện truyền thông lớn lao, đặc biệt là ở xã hội dân chủ, có thể tạo nên quan tâm thích đáng vào hòa bình thế giới bằng cách đóng góp nhiều bài tường thuật về những tiết mục mà con người quan tâm, phản ánh sự hợp nhất tối cao của nhân loại. Với sự sinh khởi của vài năng lực vĩ đại nầy trên diễn đàn quốc tế, nơi vai trò của nhân tính trong các tổ chức quốc tế đang bị bỏ qua và xem thường, tôi hy vọng điều nầy sẽ được điều chỉnh và tất cả các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, sẽ năng động và hiệu quả hơn trong việc bảo đảm lợi lạc lớn nhất cho nhân loại và mở rộng tầm hiểu biết trên phạm vi quốc tế. Thực là rất bi đát nếu một vài thành viên có thế lực mạnh tiếp tục bạc đãi các tổ chức khác trên thế giới, như Liên Hiệp Quốc với những quan tâm có tính cách thiên vị. Liên Hiệp Quốc phải trở thành công cụ cho hòa bình thế giới. Tổ chức thế giới nầy phải được tôn trọng bởi tất cả, vì Liên Hiệp Quốc là cội nguồn hy vọng duy nhất cho những nước nhỏ bị áp bức và cũng như cho toàn thể các hành tinh.

Như các quốc gia nghèo tùy thuộc vào các nước khác hơn trước đây bao giờ hết, thì sự hiểu biết của con người phải vượt qua ranh giới quốc gia và phải bao hàm cả cộng đồng thế giới ở mức độ rộng lớn. Thực vậy, trừ phi chúng ta tạo được bầu không khí hợp tác chân thực, không thủ lợi bằng sự đe dọa hay thực dụng thông qua bạo lực mà bằng sự hiểu biết thông cảm, thì vấn đề thế giới sẽ được thúc đẩy. Nếu người ở các quốc gia nghèo bị khước từ hạnh phúc mà họ mơ ước và xứng đáng được hưởng, tự nhiên, họ sẽ bất mãn và đặt vấn đề với người giàu. Nếu những hình thức xã hội, chính trị, văn hóa vô ích ấy tiép tục áp đặt cho con người một cách miễn cưỡng, thì mục đích hòa bình thế giới thật đáng ngờ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thỏa mãn mọi người ở mức độ tùy tâm, hòa bình chắc chắn sẽ đến.

Trong mỗi quốc gia, mỗi cá nhân phải có quyền được hạnh phúc, và giữa các quốc gia, phải có sự quan tâm bình đẳng về lợi ích của một quốc gia dù nhỏ nhất. Tôi không đề nghị một hệ thống này tốt hơn hệ thống kia và tất cả đều phải chấp nhận. Ngược lại, những hệ thống chính trị và ý thức hệ khác nhau là điều tốt đẹp và thích hợp với những thiên hướng khác nhau trong cộng đồng nhân loại. Điều nầy làm tăng thêm những yêu cầu hạnh phúc không ngừng của nhân loại. Vậy nên mỗi cộng đồng nên có được tự do tham gia vào hệ thống chính trị và kinh tế – xã hội của riêng họ, căn cứ vào nguyên tắc của quyền tự quyết.

Sự thành tựu của công lý, hòa hợp, và hòa bình tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Chúng ta nên suy nghĩ về nó trong phạm vi lợi lạc của con người về lâu dài hơn là ngắn hạn. Tôi nhận thấy sự to lớn của vấn đề đã xảy ra trước chúng tôi, nhưng tôi hiểu không có cách thay thế hơn là cách mà tôi đã dự tính – căn cứ trên cộng đồng nhân loại chúng ta. Các quốc gia không còn có sự lựa chọn nào hơn là quan tâm đến lợi ích của người khác, không nhiều bởi vì niềm tin vào nhân loại, mà bởi vì đó là sự hỗ tương lẫn nhau và lợi ích lâu dài mà tất cả các quốc gia cùng quan tâm. Một cảm thụ về thực tại mới mẻ nầy được biểu hiện bởi sự nổi lên của các tổ chức kinh tế khu vực hay liên lục địa như Cộng đồng kinh tế châu Âu[111] và Hiệp hội các nước Đông Nam Á[112]... Và cứ thế, hy vọng còn có nhiều tổ chức xuyên quốc gia sẽ được thành lập, đặc biệt là ở những vùng kinh tế phát triển và những nơi dường như ổn định với những nhu cầu tối thiểu.

Với điều kiện hiện nay, chắc chắn có một nhu cầu đang lớn mạnh về tri thức của nhân loại và ý thức về trách nhiệm toàn cầu. Để thành tựu được lý tưởng nầy, chúng ta phải nuôi lớn lòng từ bi chí thiện, không có tấm lòng nầy, chúng ta không thể có được hạnh phúc cho nhân loại cũng không có hòa bình thế giới lâu dài. Chúng ta không thể tạo hòa bình trên giấy. Trong khi bào chữa, biện hộ cho trách nhiệm toàn cầu và tình huynh đệ rộng lớn không giới hạn, thực tế là tính nhân đạo ấy được hợp thành bởi những thực thể tách rời trong dạng những xã hội mang tính quốc gia. Do vậy, trong một ý nghĩa thực tế, tôi thấy những xã hội nầy dường như đang bị bắt buộc phải dựng nên một chướng ngại cho hòa bình thế giới.

Những nỗ lực đã có trong quá khứ để tạo dựng cho xã hội công chính và bình đẳng hơn. Những sự khởi động đã được thiết lập với những hiến chương cao quý để chống lại những thế lực phá hoại xã hội. Không may, những ý tưởng nầy đã bị lòng ích kỷ đánh lừa. Còn hơn trước đây, ngày nay chúng ta chứng kiến đạo đức và những nguyên tắc cao quý bị che mờ bởi bóng râm của tư lợi, đặc biệt là trong bầu khí chính trị. Có một trường phái tư tưởng cảnh báo chúng ta đề phòng vấn đề chính trị nói chung, vì chính trị đã trở nên đồng nghĩa với phi luân. Chính trị thiếu luân lý thì không thúc đẩy được lợi ích nhân loại và đời sống không có đạo đức thì kéo con người xuống mức cầm thú. Tuy nhiên, chính trị rõ ràng không »dơ bẩn«. Đúng hơn, những chất liệu của nền văn hóa chính trị của chúng ta đã bóp méo lý tưởng cao cả và ý thức cao thượng có ý nghĩa đẩy mạnh lợi lạc cho con người. Tất nhiên, những người có tinh thần biểu lộ sự quan tâm của họ về những nhà lãnh đạo tôn giáo hay »lẫn lộn« với vấn đề chính trị, do họ sợ sự ô nhiễm mà tôn giáo phải bị mắc phải vì sự bẩn thỉu của chính trị.

Tôi đề nghị sự tự tôn thông thường về tôn giáo và luân lý không nên đặt trong chính trị và những người có đời sống tôn giáo ấy nên tự mình sống ẩn dật như một nhà tu khổ hạnh. Quan niệm như vậy về tôn giáo cũng chỉ mới một chiều, nó thiếu tầm nhìn chính đáng về sự liên hệ của cá nhân với xã hội và vai trò của tôn giáo trong đời sống chúng ta. Đạo đức như là một tính chất quyết định đối với một chính trị gia như nó đối với một tín đồ. Hậu quả nguy hiểm sẽ kéo theo khi nhà chính trị và lãnh đạo quên đi những nguyên tắc đạo đức. Dù chúng ta có tin vào thượng đế và nghiệp hay không, luân lý vẫn là nền tảng của mọi tôn giáo. Những phẩm chất của con người như đạo đức, từ bi, sự lễ phép, trí tuệ... là nền tảng của tất cả mọi nền văn minh. Những phẩm chất nầy phải được gieo trồng và nuôi dưỡng thông qua hệ thống giáo dục đạo đức với sự hỗ trợ của môi trường xã hội chung quanh để tính nhân bản thế giới có thể khởi phát được. Những phẩm tính cần thiết để tạo nên một thế giới như vậy phải được khắc sâu vào trong trí ngay từ lúc mới sinh trưởng, từ thời thơ ấu của trẻ thơ. Chúng ta không thể chờ đợi thế hệ tương lai, nhưng không thể có được điều nầy trừ phi chúng ta khởi đầu một sự thay đổi chủ yếu trên bình diện thế giới trong hệ thống giáo dục hiện thời. Chúng ta cần có một cuộc cách mạng trong sự cam kết của chúng ta và sự thực hành giá trị nhân bản trên toàn cầu.

Phát những lời kêu gọi rầm rộ để điều chỉnh lại sự suy thoái đạo đức cũng chưa đủ, chúng ta phải làm một điều gì đó. Bởi vì chính phủ ngày nay không gánh vác một trách nhiệm »tôn giáo« như vậy. Các nhà lãnh đạo tôn giáo và lãnh đạo các tổ chức nhân đạo phải kéo dài sự tồn tại một xã hội, văn hóa, nền giáo dục và các tổ chức tôn giáo có tính công dân, để làm sống lại tính nhân đạo và giá trị tâm linh. Nơi đâu có nhu cầu cần thiết, chúng ta phải tạo ra tổ chức mới để thành tựu mục tiêu. Chỉ có thực hiện như vậy, chúng ta mới mong tạo được một nền tảng vững chắc cho hòa bình thế giới.

Cùng sống trong xã hội, chúng ta nên chia xẻ sự đau khổ của đồng loại và thực hành lòng từ bi và lòng khoan thứ không những chỉ đối với những người ta yêu mà còn đối với kẻ thù nghịch ta. Đây là sự thử nghiệm sức mạnh đạo đức. Chúng ta phải lấy ví dụ ngay nơi sự thực hành của mình, vì chúng ta không thể hy vọng tin tưởng giá trị tôn giáo ở người khác chỉ bằng qua lời nói. Chúng ta phải sống cùng một tiêu chuẩn của sự hợp nhất và lòng hy sinh cao độ mà chúng ta đã đòi hỏi ở người khác. Mục đích tối hậu của các tôn giáo là giúp ích và làm lợi ích cho nhân loại. Đây là lý do rất quan trọng tại sao các tôn giáo luôn luôn có ảnh hưởng đến hạnh phúc và hòa bình của toàn thể chúng sinh mà không chỉ là chuyển hóa người theo tôn giáo khác.

Cũng vậy, trong tôn giáo không có biên giới quốc gia. Một tôn giáo chỉ có thể nên áp dụng bởi con người khi họ nhân ra có những điều lợi lạc khi sống trong tinh thần tôn giáo đó. Điều quan trọng cho mỗi người tìm kiếm là chọn được một tôn giáo thích hợp với đời sống tâm linh của riêng mình. Nhưng, sự chọn lựa một tôn giáo đặc biệt không có nghĩa là từ bỏ tôn giáo khác hoặc cộng đồng nơi mình đang sống. Thực vậy, rất quan trọng cho những người chọn một tôn giáo không nên tách rời hẳn mình khỏi xã hội mình đang sống, họ nên tiếp tục sống trong cộng đồng và hài hòa với các thành viên đang sống trong đó. Bởi vì từ bỏ cộng đồng của mình, thì các bạn không thể làm lợi ích cho người khác, trong khi làm lợi ích cho mọi người thực sự là mục tiêu cơ bản của tôn giáo.

Theo quan điểm nầy, có hai điều quan trọng chúng ta phải giữ trong tâm: tự chiêm nghiệm và tự điều chỉnh lại mình. Chúng ta nên thường rà soát lại thái độ của mình đối với người khác, khảo nghiệm mình rất kỹ, và chúng ta nên điều chỉnh phong cách kịp thời khi thấy có điều gì sai trái.

Cuối cùng, là vài lời về sự tiến bộ vật chất. Tôi đã nghe nhiều than phiền về tiến bộ vật chất ở phương Tây, và thế là có điều nghịch lý, điều ấy đã là niềm hãnh diện của thế giới phương Tây. Tôi không thấy điều gì sai trái trong sự tiến bộ vật chất, miễn là con người luôn luôn tạo ra tiêu chuẩn sống cho mình. Tôi tin chắc chắn rằng để giải quyết vấn đề nhân loại trong mọi chiều hướng, chúng ta phải kết hợp và điều hòa sự phát triển kinh tế và phát triển đời sống tâm linh.

Tuy nhiên, chúng ta phải biết giới hạn của nó mặc dù tri thức duy vật trọng hình thái khoa học kỹ thuật đã đóng góp một cách vô cùng to lớn cho lợi ích nhân loại, nhưng nó không có khả năng tạo ra hạnh phúc lâu dài. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, nơi mà sự phát triển của kỹ thuật có lẽ tiến bộ hơn bất kỳ quốc gia nào khác, mà người dân vẫn còn rất nhiều nỗi khổ tinh thần. Đây là vì tri thức vật chất chỉ có thể đáp ứng một phần hạnh phúc tùy thuộc vào điều kiện vật lý. Nó không thể đáp ứng được hạnh phúc phát xuất từ những yếu tố nội tại phát triển độc lập từ chiều sâu tâm linh.

Để làm mới lại giá trị nhân bản và đạt được hạnh phúc lâu dài, chúng ta phải nhìn vào di sản của cộng đồng nhân loại từ khắp các quốc gia trên thế giới. Nguyện cầu cho bản chuyên luận nầy được đến quý vị như một lời nhắc nhở cấp bách để chúng ta khỏi quên giá trị nhân bản đã nối kết chúng ta lại với nhau thành một gia đình hợp nhất trên hành tinh nầy.

 

 

  MỤC   LỤC



[1] Freedom in Exile.

[2] Rinpoche là danh hiệu dành cho các bậc Đạo sư, có nghĩa là »Người cao quý«.

[3] Thổ-đan Gia-mục-thố (Thubten Gyatso, 1876-1933).

[4] Đạt-lại Lạt-ma thứ 1: Căn-đôn Châu-ba (Gendun Drub, 1391-1475)

[5] Avalokiteśvara, gọi theo tiếng Tây Tạng là Chenrezig.

[6] Có nghĩa: Vị Lạt-ma ở xứ Sera.

[7] Tây Phương thường quen gọi đây là siêu hình học (metaphysics) Phật giáo.

[8] Nguyên nghĩa là Lượng học

[9] Theo quy định, còn hai năm nữa, khi Đạt-lại Lạt-ma được 18 tuổi, ngài mới được trao quyền nhiếp chính.

[10] Trong chính phủ Tây Tạng, mọi chức vụ đều do hai người đảm nhiệm, một là tăng sĩ và một là cư sĩ.

1 Kālachakra: lễ điểm đạo.

[12] S: maṇḍala; Tb: dkyil-ḥkhor:  chỉ tôn tượng Phật  hoặc Bồ-tát, các chủng tự, hoặc các hình tượng tam-muội-da.

[13] Những phần được in chữ nghiêng trong bài là trích từ tập Freedom in Exile của Đạt-lại Lạt-ma thứ 14.

[14] Bodhicitta

[15] s: Śūnyata, e: Emptiness

[16] Śāntideva: Tịch Thiên 寂 天; S: śāntideva; Cao tăng thuộc phái Trung quán. Truyền thuyết cho rằng Sư là một vương tử miền Nam Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 7, 8, và hoạt động tại viện Na-lan-đà. Sư là tác giả của hai tác phẩm quan trọng là Ðại thừa Tập Bồ-tát  học luận (s: śikṣāsamuccaya) và Nhập bồ-đề hành luận (bodhicaryāvatāra). Một tác phẩm thứ ba cũng thường được nhắc đến là Tập kinh luận (s: sūtrasamuccaya) đã thất truyền (theo Thánh Nghiêm thì được dịch ra Hán ngữ dưới tên Ðại thừa thật yếu nghĩa luận). Nhập bồ-đề hành luận rất thông dụng trong Phật giáo Tây Tạng, là kinh điển giáo khoa. Nhập bồ-đề hành luận trình bày các bước tu học vị Bồ-tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm (bodhicitta) cho đến lúc đạt trí Bát-nhã (prajñā), dựa trên Lục độ (pāramitā). Nhập bồ-đề hành luận là tác phẩm nhằm hướng dẫn cho Cư sĩ hay người mới nhập môn. Tịch Thiên giảng giải trong tác phẩm này hai phương pháp nhằm giúp vị Bồ-tát  tương lai nhận biết tại sao mình lại cứu độ cho người và xuất phát từ đó các hành động cần thiết. Một mặt hành giả phải tu học phép quán chiếu cái nhất thể giữa mình và người (parātmasamatā), mặt khác phải học phép hoán đổi mình và người (parātmaparivartana, tức là đặt mình vào địa vị của chúng sinh để thấu rõ tâm trạng của Hữu tình (s: sattva).

[17] A-đề-sa: 阿 提 沙; S: atīśa, atiśa; A-đề-sa là cách đọc theo âm Hán Việt, dịch ý là »Người xuất chúng, xuất sắc«, cũng được gọi là Nhiên Ðăng Cát Tường Trí (燃 燈 吉 祥 智; s: dīpaṅkaraśrījñāna);

Ðại sư người Ðông Ấn (982-1054), người đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Sư chuyên nghiên cứu các phương pháp phát triển Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Là Tổ của dòng Ma-kiệt-đa (s: magadha) và thuyết sư tại đại học Siêu Giới (s: vikramaśīla), Sư được mời qua Tây Tạng và sống ở đó 12 năm cuối đời mình. Sư là người sáng lập trường phái Cam-đan (t: kadampa), có ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Tây Tạng, nhất là dòng Cách-lỗ (t: gelugpa) của Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa). Ðệ tử quan trọng nhất của Sư là Lạc-mẫu-đông (hoặc Ðông-đốn [t: dromton], 1003-1064). Thế kỉ thứ 10 được xem là thời đại truyền pháp lần thứ hai từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, thông qua vương triều miền Tây. Ban đầu nhà vua cử sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh, như dịch giả Lâm-thân Tang-pha (t: rinchen sangpo). Về sau nhà vua mời hẳn một Luận sư Ấn Ðộ và người đó là A-đề-sa. Năm 1042, Sư đến Tây Tạng, sống ở Netang và bắt đầu giáo hoá.

Trong tác phẩm Bồ-đề đạo đăng (s: bodhipathapradīpa), Sư trình bày toàn cảnh giáo pháp Ðại thừa và chia hành giả theo ba căn cơ khác nhau: 1. Hạ sĩ: loại người mong được tái sinh nơi tốt lành, 2. Trung sĩ: loại người tu vì sự giác ngộ của chính mình ( Tiểu thừa) và 3. Thượng sĩ: loại người tu vì sự Giác ngộ của tất cả chúng sinh (Bồ-tát). Công trình chính của A-đề-sa là xếp đặt thứ tự kinh sách, không phổ biến bừa bãi. Sư là người đưa Ða-la (s: tārā) trở thành một vị nữ Hộ Thần quan trọng trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng. Trong các trứ tác, Sư thống nhất hai trường phái chính của giáo pháp Bát-nhã ba-la-mật: quan điểm tính Không (s: śūnyatā) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và tính bao trùm của tâm thức giác ngộ theo Vô Trước (s: asaṅga).

 

[18] Lục Ba-la-mật: 1. Bố thí, 2. Trì giới, 3. Nhẫn nhục, 4. Tinh tấn, 5. Thiền định, 6. Trí tuệ

[19] ; S: vajrayāna;金 剛 乘 Một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5,6 tại Bắc Ấn Ðộ. Kim cương thừa bắt nguồn từ Ðại thừa (s: mahāyāna) và được truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản (riêng bộ Vô thượng du-già không được truyền sang Trung Quốc và Nhật).

Xuất phát từ Phật giáo Ðại thừa, nhưng trường phái này lấy thêm những phương pháp tu học có tính chất bí truyền. Thường thường các phái này được hướng dẫn bởi một vị Ðạo sư, kinh sách của họ trình bày nhiều phép tu gọi là Tan-tra. Kim cương thừa hay sử dụng Man-tra và có ảnh hưởng mạnh nhất tại Tây Tạng. Vì hay sử dụng Man-tra, Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Kim cương thừa là Chân ngôn thừa (s: mantrayāna). Giáo pháp của Kim cương thừa mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố của phép Du-già và các tôn giáo thiên nhiên của Ấn Ðộ trộn lẫn với tư tưởng Phật giáo. Quan trọng nhất là ảnh hưởng từ Tây Bắc Ấn Ðộ với nhiều biểu tượng về Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ) cũng như ảnh hưởng của Bắc Ấn về việc tôn thờ giới tính. Trong thời gian đầu, giáo pháp này chỉ được khẩu truyền, và đến giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10 mới được hệ thống hoá và kết tập hoàn chỉnh. Các tác phẩm quan trọng nhất của Kim cương thừa là Bí mật tập hội tan-tra  (s: guhyasamājatantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakratantra) cũng sinh ra trong thời gian này. Các kinh sách quan trọng nhất của Kim cương thừa được gồm trong các Tan-tra cũng như các bài thánh đạo ca của các vị Tất-đạt (s: siddha), là các bài diễn tả kinh nghiệm của phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā).

Lúc Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng thì cũng là lúc giáo pháp này đã có một chỗ đứng vững chắc trong Phật giáo nói chung. Muốn lĩnh hội Kim cương thừa, hành giả phải có một kiến giải sâu xa về giáo pháp của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, giáo pháp theo cách luận giải của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga). Vì vậy Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng được gọi là »Nhân thừa« (因 乘) và Kim cương thừa được gọi là »Quả thừa« (果 乘). Trong Kim cương thừa, có một yếu tố quan trọng khác là vai trò của một vị Ðạo sư, vị này Quán đỉnh và truyền lực, hướng dẫn đệ tử thiền quán, chú tâm vào một Nghi quĩ (s: sādhana) nhất định. Trong các phép này, sử dụng Man-tra, quán Man-đa-la và và bắt Ấn là những phương tiện quan trọng. Trong Kim cương thừa, Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) biểu hiện sự giác ngộ, đạt được sự nhất thể của vũ trụ, vượt lên mọi nhị nguyên thông thường

[20] Mañjuśrī mūla tantra;  e:Root text of Manjushri .

[21] Yamantaka tantra.

[22] Guhyasamāja mūla tantra.

[23] Completion Stage, Niṣpanna Krama (s) – Rdzogs rim (tb)

[24] Cakras: còn gọi là các trung khu, nơi tập trung khí lực của con người. Có 7 trung khu, được sắp xếp từ đỉnh đầu đến hậu môn.

[25] Nadis: còn gọi là »năng tuyến«, »lực tuyến«, là những tuyến năng lực trong thân thế con người, qua đó, chân khí (prana) được truyền đi.

[26] Development stage – Utpattikrama (s) – Bskyed rim (t).

[27] Hindu tantra

[28] A truly-existent self

[29] Tsong-kha-pa 宗 喀 巴; T: tsong-kha-pa (1357-1419), Lạt-ma Tây Tạng sinh tại Amdo, Đông Bắc Tây Tạng, nhà cải cách lừng danh của Phật giáo tại đây. Sư sáng lập tông phái Cách-lỗ (t: gelugpa) với một trong những giáo pháp quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng. Sư sinh ra trong lúc các Tạng kinh tại Tây Tạng đã soạn xong nhưng Sư chủ trương soát xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành quả của mình trong hai tác phẩm chính: Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim chenmo) và Chân ngôn đạo thứ đệ (t: ngagrim chenmo). Sư là người xây dựng nhiều tháp quan trọng tại Tây Tạng như Drepung, Sera và Ganden.

Lúc còn nhỏ, Sư đã vào con đường tu học. Năm ba tuổi, Sư thụ giới Cư sĩ với Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ 4, La-bồi Ða-kiệt (t: rolpe dorje; 1340-1383). Sư học với nhiều vị đạo sư khác nhau và nghe nhiều khai thị của hai tông phái Tát-ca (t: sakyapa) và Cam-đan (t: kadampa). Khả năng luận giảng xuất sắc của Tông-khách-ba biểu lộ trong 18 tác phẩm và các tác phẩm này đã trở thành giáo khoa thư cho các thế hệ sau. Sư cho rằng, một tỉ-khâu cần phải nghiên cứu năm ngành học (Ngũ minh) và muốn thế, vị này cần biết lắng nghe các lời khai thị, biết tự mình suy xét phân biệt và biết thực hiện chúng thông qua thiền định. Trong năm ngành đó thì về triết học, Sư khuyên học Trung quán và Nhân minh luận(s: hetuvidyā), về thiền định nên nghiên giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), về một đời sống chân chính nên dựa vào Luật tạng (s, p: vinaya). 

Sư được diễn tả như một hiện thân của Văn-thù, với những dụng cụ thuộc tính như hoả kiếm (s: khaḍga) và quyển kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra). Tay Sư đang bắt Ấn chuyển pháp luân. Phía trên đầu là ba bảo ngọc, tượng trưng cho Tam bảo. Mũ nhọn trên đầu Sư là biểu tượng cho vai trò học giả (s: paṇḍita).

 

[30] Ge-lug-pa (T), nghĩa là tông phái của những hiền nhân. Một trong 4 tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Còn gọi là Hoàng mạo phái

[31] Kagyupa (T), nghĩa là »Thánh ngữ tương thừa giả« chủ trương thực hành Đại thủ ấn (mahāmudrā) và Narô bí mật lục pháp.

[32] Còn được gọi là Tam nghiệp bí mật kinh, là Tantra đầu tiên của Phật giáo, được biên soạn vào thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 7, được xếp vào Vô thượng du già Tantra.

[33] Còn gọi là Na-lạc du-già tốc đạo, là sáu giáo pháp bí mật của Na-rô-pa.

[34] Nyingmapa (T): còn gọi là Cựu phái, hoặc Hồng giáo do Đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) truyền từ Ấn Độ sang.

[35] Sakyapa: mang tên ngôi chùa Sakya: nghĩa là đất xám.

[36] Hevajra: một vị hộ thần của Hô Kim Cương Tantra, thuộc Vô Thượng Du Già Tan-tra

[37] Vajrayogini

[38] Pramāṇavarttika (Elucidation of Valid Perception): Lượng thích luận của Pháp Xứng, được xem là một môn trong Nhân minh học.

[39] Vinaya Discipline

[40] Madhyamaka – The Middle view

[41] Cách-lỗ (gelugpa) 2. Ninh-mã (nyingmapa) 3. Ca-nhĩ-cư (kagyupa) và 4. Tát-ca (sakyapa).

[42] Danh hiệu do vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 5 tặng cho thầy mình là vị trụ trì chùa Ta-shi Lhunpo vào thế kỷ 17. Ban thiền cũng được xem là dòng tái sinh (tulku), nhưng không có trách nhiệm lãnh đạo chính trị.

[43] Bodhicaryāvatāra (s), Venturing into the Deeds of a Bodhisattva (e), cũng thường được gọi tắt là Bồ đề hành luận hoặc Nhập Bồ Tát hành luận.

[44] Jaundice: bệnh viêm gan vàng da.

[45] Losang Gyatso (1617-1682), phiên âm là La-bốc-tạng Gia-mục-thố.

[46] Gendun Gyatso (1475-1542), phiên âm là Căn-đôn Gia-mục-thố

[47] Clear light: ánh sáng bừng chiếu của tuệ giác một khi được chứng ngộ.

[48] Natural

[49] Cây Pippala (s); Assattha (p). Phiên âm là Tất-bát-la. Hán dịch là Cát tường thọ, Bồ-đề thọ Tất-bát thọ. Là loại cây thân cao, họ đậu, mọc nhiều ở Trung Ấn Độ và Bangladesh. Do Đức Phật thành đạo dưới cây nầy nên từ đó, nó được gọi là cây bồ-đề.

[50] Theo Kim cương thừa (vajrayāna). Đức Phật Phổ Hiền chỉ cho Bản sơ Phật (ādibuddha), là biểu hiện cho pháp thân (dharmakāya), được vẽ bằng màuxanh đậm, tượng trưng cho Tính không. Trong pháp Đại thủ ấn, Phổ Hiền tượng trưng cho Báo thân (saṃbhogakāya), đóng vai trò trung tâm.

[51] Brāhmaṇas: Phạm thiên; theo tư tưởng Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo đây là vị thần sáng tạo ra vạn hữu vũ trụ. Vị nầy cùng với thần Śiva (Thấp-bà), và thần Viṣṇu (Tỳ-thấp-nô) là ba vị thần chính của Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo. Phạm thiên thường  là chỉ cho Đại Phạm thiên vương, tên là Thi Khí (Śikhī), hoặc là Thế Chủ (Prajāpati). Theo truyền thuyết thì vào kiếp sơ, Phạm thiên từ Quang Âm thiên hạ sanh rồi tạo tác ra vạn vật. Trong Phật giáo thì Phạm thiên và Đế thích đều là những vị thần hộ trì Phật pháp.

 

[52] Pramāṇavarttika-karika (s). Compedium of Valid Knowlegde (e)

[53] Dharmakīrti: Pháp Xứng 法 稱; S: dharmakīrti; Một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Ðộ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharmapāla) tại Na-lan-đà ( Mười đại luận sư).

Sư sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) và đã tinh thông tất cả những môn học thời đó lúc còn trẻ. Sau đó, Sư bắt đầu nghiên cứu, tu học Phật pháp với tư cách của một Cư sĩ. Phật học lôi cuốn Sư đến mức Sư bỏ đạo Bà-la-môn, đến viện Na-lan-đà thụ giới cụ túc và tham học với Hộ Pháp. Các tác phẩm của Trần-na (s: dignāga, diṅnāga) tại viện Phật học này chính là yếu tố ngộ đạo của Sư. Sau khi kết thúc giai đoạn tu tập, Sư bắt đầu công việc hoằng hoá, xiển dương đạo Phật, viết nhiều luận giải, đại diện Phật giáo tham dự nhiều cuộc tranh luận. Trong những cuộc tranh luận này, Sư dùng Nhân minh học để hàng phục đối phương và trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng đặt Sư lên một địa vị cao hơn cả Trần-na. Trong những năm cuối đời mình, Sư từ bỏ việc chu du đây đó và lui về một trụ trì một Tinh xá tại Orissa (bây giờ là Kālinga) và mất tại đây.

.

[54] Kālacakra Tantra: một trong 4 tác phẩm quan trọng của Vô Thượng Du-già Tan tra, chỉ dạy phương pháp tu luyện cao tột để thành Phật ngay trong kiếp nầy.

[55] Thông thường, theo kinh luận P.G, chỉ đề cập đến 4 yếu tố cấu tạo nên vũ trụ thế giới. Đó là: đất, nước, lửa, gió. Theo Mật thừa, có đến 5 yếu tố (element). Đó là: đất, nước, lửa, gió và không. Còn theo Kinh Thủ-lăng-nghiêm, có đến bảy yếu tố, gồm: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến và thức (thất đại).

[56] non-sectarianism                                           

[57] initiation

[58] Siddhi (s) – great accomplished master

[59] Lạt-ma: theo P.G Tây tạng, Lạt-ma là hiện thân của giáo pháp, gần như Gu-ru, bậc đạo sư của Ấn Độ. Danh hiệu cao nhất của Lạt-ma là Rinpoche (quý báu phi thường)

[60] Tulku (Chu-cô): Thuật ngữ nầy có nguồn gốc từ tiếng Mông Cổ và tiếng Sanskrit. Có nghĩa là »Tự tại hóa sinh« và »Minh tâm kiến tính«, »Sinh tử tự chủ«. Phạn ngữ tương ứng là Nirmāṇakāya (ứng hóa thân). Tại Tây Tạng, danh từ nầy để gọi các dòng tái sinh và các vị tái sinh, các vị khi chết mà không mê mờ bản tâm, nguyện trở lại thế gian để thể hiện hạnh nguyện độ sanh.

[61] Geshe: học vị tương đương Tiến sĩ Phật học

[62] Jerusalem: Thuộc vùng Trung Đông, quê hương của Giê-su Ki-tô người sáng lập Cơ đốc giáo.

[63] Mecca: một thành phố của A-rập Xê-út, nơi sinh của giáo chủ Môhamét và trung tâm của đạo Hồi.

[64] A-dục 阿 育; S: aśoka; P: asoka; cũng gọi là A-du-ca, dịch nghĩa là Vô Ưu, không ưu sầu, lo nghĩ; Tên của một vị vua xứ Maurya miền Bắc Ấn Ðộ, trị vì từ năm 272 đến 236 trước Công nguyên, mất năm 231. Trong lịch sử Ấn Ðộ, ông đã để lại nhiều dấu tích quan trọng. Sau một cuộc viễn chinh đẫm máu năm 260 ông có dịp được nghe Phật pháp và tỉnh ngộ, quyết định thành lập một »Vương quốc phụng sự Phật pháp.« Ông đích thân đi khắp các miền trong nước để bảo vệ luật lệ và chính pháp. Ông cũng là người cổ vũ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật cúng tế. Trong thời A-dục vương, đạo Phật phát triển mạnh ở Tích Lan. Người con trai của A-dục vương là Ma-hi-đà (Mahinda) cũng góp phần rất nhiều trong việc truyền bá đạo Phật.

Tài liệu về A-dục rất nhiều sai khác. Theo tài liệu từ văn hệ Pāli thì ông là một quốc vương chỉ phụng sự cho đạo Phật. Theo một số tài liệu của giới khảo cổ, nhất là tư liệu khắc trên đá do chính A-dục cho ghi lại thì ông cũng ủng hộ rất mạnh các giáo phái khác, đúng như trách nhiệm của một nhà vua. Các tư liệu khắc trên đá hay dùng chữ »Pháp« (s: dharma). Người ta thấy rằng Pháp nói ở đây không chỉ phải là Phật pháp mà là một hệ thống luân lí do nhiều trào lưu tôn giáo thời đó tổng hợp lại. Quan điểm của A-dục vương là làm sao thần dân có một cuộc đời hạnh phúc; trong đó gồm sự tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, biết tuân lời, tôn trọng sự thật, hướng nội...

 

[65] Śūnyatā, emptiness

[66] Rajaparikatha-ratnavali (s) – The Precious Garland for the King. Còn được gọi tắt là Ratnāvalī: »Vòng bảo châu«.

[67] Sautrāntika.

[68] Cittamātra.

[69] Svātantrika.

[70] Prāsaṅgika (s), Consequentialists (e).

[71] Mà cần phải có trí huệ Bát-nhã.

[72] Phiền não (s: kleśa; p: kilesa)

[73] Theo Phật giáo Tây Tạng, đó là: 1. Trung quán tông (mādhyamika) do Bồ-tát   Long Thọ đề xuất; 2. Duy thức tông (vijñānavādayogacaracittamatra) do Vô Trước và Thế Thân sáng lập; 3. Mật tông (tantra): xuất phát từ Ấn Độ; 4. Kim cương thừa (vajrayāna): Mật tông thịnh hành tại Tây Tạng.

 [74] Y tự khởi tông (svātantrika) và Ứng thành tông (prāsaṅgika).

-Y tự khởi tông: do ngài Thanh Biện (清 辯; bhāvaviveka) áp dụng luận lí học của Duy thức tông và Nhân minh học của Trần-na (陳 那; dignāga) trong thuyết Trung luận của mình. Sư hay nhấn mạnh đến »tính hợp qui luật«, xây dựng luận thức độc đáo của chính mình và sau đó tiến tới bác bỏ lập luận đối phương. Vì thế nên hệ phái của Sư mang tên là Trung quán-Tự ý lập tông (中 觀 自 意 立 宗) hay Trung quán-Y tự khởi tông (中 觀 依 自 起 宗; svātantrika-mādhyamika). Sư cũng phân tích và phê bình các luận sư khác và công kích luôn cả Phật Hộ. Cho Trung quán tông thì việc Thanh Biện đưa những quan chút – chỉ làm thêm phong phú và thúc đẩy sự phát triển. Tất nhiên qua đó Thanh Biện có nhiều sai biệt với các luận sư khác, như về thể tính của ý thức, sư xem nó chỉ là một phần của thế giới hiện tượng.

-Ứng thành tông (prāsaṅgika): do Phật Hộ (佛 護; buddhapālita) là người đại diện xuất sắc của Trung quán tông. Sư có viết bài luận về (Căn bản) Trung quán luận tụng ([mūla-] madhyamaka-kārikā), tác phẩm chính của Long Thụ. Trong bộ này, với tên Phật Hộ căn bản trung quán luận thích (buddhapālita-mūlamadhyamaka-vṛtti), Sư đả phá quan điểm của những kẻ đối nghịch và những kết luận (prasaṅga) sai trái của họ, có thể gọi là »phá tà hiển chính,« nghĩa là không nêu quan điểm của chính mình, chỉ dựa vào những nhược điểm, những mâu thuẫn hiển hiện của đối thủ mà đả phá họ. Sư thành lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中 觀 具 緣; cũng gọi là Trung quán-Ứng thành tông; 中 觀 應 成 宗; s: prāsaṅgika-mādhyamika) – tên gọi tông này dựa trên phương pháp đó.

 

[75] Inherent existence of conventional reality

[76] Contigent truths

[77] Intrinsic identity

[78] Voidness

[79] 不 害; C: bù hài; J: fugai; S, P: ahiṃsā; cũng gọi Bất sát sinh (不 殺 生; pāṇāṭipātā paṭivirati, pāṇāṭipātā veramaṇī);

 

[80] Empty of inherent existence

[81] Còn gọi là Đạo can kinh »Kinh cây lúa«, Rice Seeding Suttra.

[82] Vô minh (avidyāignorance)

[83] Hành  (s: saṃskāra; p:  saṅkhāra, e:compositional action)

[84] Thức (s: vijñāna; p: viññāṇa, e:connsciousness)

[85] Danh sắc (s: nāma-rūpa, e: name and form)

[86] Lục căn (s: ṣaḍ indriyāṅi, e: six spheres)

[87] Xúc (s: sparśa, p: phassa, e: contact)

[88] Thọ (s: vedanā, e: feeling)

[89] Ái (s: tṛṣṇā, e: attachment)

[90] Thủ (s: upādāna, e: grasping)

[91] Hữu (s: bhava, e: existence)

[92] Sinh (s: jāti, e: birth)

[93] Lão tử (s: jāra-maraṇa, e: aging and death)

[94] Saṃkhyā.

[95] Process of Purification: còn gọi là chiều hoàn diệt, hoặc hoàn diệt môn

[96] Gods and Demi-gods

[97] Vua nước Kosambi, thuộc vùng Trung Á, là người đầu tiên tạc nên tượng Phật.

[98] Seventy Stanzas on Emptiness, Śunyātasaptatikarika

[99] The knower.

[100] Ahiṃsa (bất hại) – Non-violent.

[101] Container và Contained

[102] Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành. Nhược vô không nghĩa giả, nhất thiết tắc bất thành. (Trung quán luận)

[103] Sunyata, emptiness.

[104] Kālachakra tantra.

[105] Interdependence.

[106] Ahiṃsa (bất hại); e:  Non-violence.

[107] Losang Gyatso: La-bốc-tạng Gia-mục-thố (1617-1682)

[108] Đức Đạt-lại Lạt-ma 14 sinh năm 1935. Bài này ngài phát biểu vào năm 1992. Được NXB. Snow Lion tập hợp, in lại vào mùa Xuân năm 1993

[109] Sikhism: phát triển từ Ấn Độ giáo vào thế kỷ thứ 6. Quan niệm nhất thần luận, chỉ thờ độc nhất một vị thần.

[110] Zoroastrianism, Zarathustra, Zoroaster. Hán dịch là Tiên giáo 祆 教, Hoả tiên giáo 火祆 教, Bái hoả giáo 拜火 教; là đạo thờ lửa. Vốn là quốc giáo của dân Ba-tư ( Persian) thời cổ đại.

[111] EEC: European Economic Community.

[112] ASEAN: Association of South East Asian Nations.


Trên Facebook

 

Âm lịch

Ảnh đẹp

Từ điển Online

Từ cần tra:
[Dịch văn bản]
Tra theo từ điển: